( Luận văn của đồng chí Cao Công Thức - Bí thư Huyện đoàn)
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận văn:
Ở bất kỳ
giai đoạn lịch sử nào, thanh niên bao giờ cũng là lực lượng nòng cốt, là đội
ngũ tiên phong của toàn dân tộc trong quá trình dựng nước và giữ nước,
"nước nhà thịnh hay suy phần lớn là do thanh niên". Thanh niên là đối
tượng có nhu cầu rất cao về mọi lĩnh vực, đặc biệt đối với văn hóa. Thế hệ
thanh niên ngày nay có điều kiện thuận lợi cho sáng tạo và hưởng thụ các giá
trị văn hoá, thoả mãn nhu cầu về nghệ thuật, về cái đẹp hơn rất nhiều so với
các thế hệ cha anh trong những năm tháng còn chiến tranh hoặc bước vào xây dung
hoà bình, kiến thiết đất nước ở giai đoạn trước.
Thanh niên huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa hiện
có khoảng 50.000 người, chiếm 29% dân số và 45% lao động xã hội, trong đó có
hơn 34.000 thanh niên được tập hợp trong tổ chức Đoàn - Hội ( trong đó có gần
13.000 là đoàn viên). Đây là lực lượng hùng hậu, luôn đi đầu trong sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ quê hương, Tổ quốc. Bên cạnh rất nhiều mặt mạnh tích cực,
một số thanh niên hiện nay nói chung đang đang có biểu hiện những vấn đề đáng
lo ngại về tư tưởng, đạo đức, lối sống, đặc biệt về vấn đề giữ gìn, phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc.
Việt Nam đang chủ động đẩy mạnh quá
trình mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế nhằm tranh thủ thời cơ, ngăn chặn và
vượt qua nguy cơ thách thức do toàn cầu hóa đem lại. Là một huyện có bề dày
lịch sử và truyền thống văn hóa, sớm phát triển nền văn minh lúa nước, chăn
nuôi và đánh bắt cá; không những thế là vùng đất có tinh thần yêu nước nồng
nàn, là cái nôi của cách mạng Việt Nam; Là huyện vùng Biển có đa dạng về các
loại hình kinh tế, trong đó kinh tế Biển với những nét văn hóa đặc trưng đang
góp phần thúc đẩy sự phát triển của địa phương, góp phần cùng toàn tỉnh, cùng
đất nước chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Chính những yếu tố đó đã và đang
tác động ngày càng sâu rộng, ảnh hưởng lớn vào mọi mặt của đời sống xã hội, đặc
biệt là vào thế hệ trẻ nói chung và đời sống văn hoá của thế hệ trẻ nói riêng.
Bản sắc văn hoá dân tộc với
thanh niên và thanh niên với vấn đề giữ gìn, phát huy bản sắc dân tộc là một
quan hệ đặc thù, cần được quan tâm ở mọi quốc gia và ở mọi thời kỳ lịch sử. Mối
quan hệ này càng trở nên phong phú, đa dạng
và phức tạp trong thời kỳ mới. Vì vậy công tác giáo dục thanh niên giữ gìn,
phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong tình hình hiện nay là hết sức quan trọng
và cần thiết, đòi hỏi các cấp, các ngành và toàn xã hội phải có nhận thức đúng
về vai trò, tầm quan trọng của công tác giáo dục thanh niên giữ gìn và phát huy
bản sắc văn hoá dân tộc; tăng cường đổi mới và nâng cao chất lượng hiệu quả
giáo dục thanh niên trong quá trình hội nhập quốc tế để họ tham gia các hoạt
động quốc tế một cách lành mạnh, không bị "hòa tan", để những giá trị
văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc tiếp tục được gìn giữ và phát huy
trong điều kiện mới.
Văn hoá khắc hoạ bản sắc và
phương thức tồn tại của một cộng đồng, khiến cho cộng đồng ấy có một đặc thù
riêng. Như vậy, văn hoá mang bản sắc dân tộc. Và yếu tố dân tộc là yếu tố quyết
định nhất của một nền văn hoá. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, dân tộc Việt Nam đã
rèn đúc, tôi luyện cho mình nhiều phẩm chất tốt đẹp. Đó là năng lực chế ngự
thiên nhiên, tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo trong chống giặc ngoại xâm; sự
hình thành một hệ giá trị cốt lõi của văn hoá dân tộc với tinh thần yêu nước, ý
chí độc lập tự cường, tinh thần đoàn kết, ý thức cố kết cộng đồng gắn kết cá
nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, sự khoan dung, trọng nghĩa
tình đạo lý, lấy nhân nghĩa làm gốc; trách nhiệm của cá nhân đối với cộng đồng
nhà - làng - nước; trọng dân, đề cao dân, lấy dân làm gốc; hoà hợp để hoà đồng,
cần cù, khiêm tốn, giản dị trong lối sống,… Tất cả tạo thành nhân cách, cốt
cách của dân tộc Việt Nam .
Cái đó còn gọi là bản sắc của dân tộc Việt Nam . Mỗi người Việt Nam đều cần có
“cốt cách” và “bản sắc” ấy dù cho ở thời kỳ lịch sử nào và trong hoàn cảnh lịch
sử cụ thể nào.
Xuất phát từ quan niệm của các nhà sáng lập chủ
nghĩa Mác- Lênin và của Chủ tịch Hồ Chí Minh về con người và sự phát triển con
người, với tư cách vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển và tiến
bộ xã hội. Đảng ta luôn luôn đặt lên hàng đầu nhiệm vụ chăm lo sự nghiệp “trồng
người”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước
hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”. Trong sự nghiệp đó, văn hoá đóng
vai trò hết sức to lớn bởi, nói tới văn hóa là nói tới con người. Những gì
không thuộc về con người không phải là văn hóa. Dù hiểu theo nghĩa rộng hay
nghĩa hẹp, văn hoá bao giờ cũng luôn hướng tới mục đích tối cao vì sự phát
triển con người, dẫn dắt con người tự hoàn thiện, vươn tới những giá trị chân-
thiện- mỹ. Thực tế đã chứng minh nói đến phát triển nguồn lực con người là phải
suy nghĩ đến ngay bộ phận chủ lực đó là lực lượng thanh niên, là thế hệ trẻ. Tổng
Bí thư Trung ương Đảng Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu tại Đại hội Đoàn toàn quốc
lần thứ X nêu rõ: “ Đối với thế hệ trẻ, Đảng ta xác định, cần làm tốt công tác
giáo dục chính trị, tư tưởng, truyền thống, lý tưởng, đạo đức và lối sống, tạo
điều kiện học tập, lao động, giải trí, phát triển toàn diện thể lực, trí tuệ
cho thế hệ trẻ. Khuyến khích, cổ vũ thanh niên nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão lớn,
xung kích, sáng tạo, làm chủ khoa học, công nghệ hiện đại. Hình thành lớp thanh
niên ưu tú trên mọi lĩnh vực, kế tục trung thành, xuất sắc sự nghiệp cách mạng
của Đảng, của dân tộc”. Trong quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng ta luôn đề cao
vai trò, vị trí của công tác thanh niên. Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 25/7/2008
của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã nêu Công tác thanh niên là vấn đề sống còn
của dân tộc. Bước vào thời kỳ mới, thanh niên càng có vai trò quan trọng hơn
bao giờ hết, là nguồn lực chủ yếu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước, là lớp người có trách nhiệm giữ gìn và phát huy những truyền
thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc. Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) cũng đã
nhấn mạnh quan tâm, giáo dục lý tưởng, đạo đức lối sống và văn hoá cho thế hệ
trẻ.
Văn hóa được biểu hiện cơ
bản qua lối sống, nếp sống. Lối sống,
nếp sống của thanh niên hiện nay hình thành trên cơ sở tâm lý, nhu cầu và lẽ
sống của thế hệ trẻ, được hình thành phát triển từ môi trường xã hội của thời
kỳ đổi mới, cũng giống như các thế hệ cha anh, nhìn chung, thanh niên hiện nay
đang hướng tới các giá trị cơ bản vẫn luôn được coi trọng đó là: Độc lập, tự do
và hạnh phúc, ấm no cho gia đình và xã hội; những giá trị vĩnh hằng đó đáp ứng
nhu cầu lý tưởng sống của thanh niên và yêu cầu phát triển của xã hội mọi thời
đại. Chính vì vậy nâng cao trình độ học vấn, tri thức nghề nghiệp, bồi dưỡng lý
tưởng, đạo đức, nhân cách tốt đẹp của thanh niên, đặc biệt trong quá trình hội
nhập hiện nay là một vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng. Thực tế hiện nay một
bộ phận thanh niên trong cả nước nói chung, tỉnh Thanh Hóa và huyện Hậu Lộc nói
riêng đang có những biểu hiện về hành vi, thái độ cực đoan, nhiều mâu thuẫn
trong suy nghĩ và hành vi cần được khắc phục. Vì vậy, cần phải có sự giáo dục
định hướng giúp cho thanh niên sớm nhận thức đúng, có thái độ đấu tranh tích
cực để chống lại mọi biểu hiện vị kỷ, những cách sống toan tính cá nhân, tự do
buông thả, thiếu kỷ cương, trách nhiệm, coi thường pháp luật đang đan xen trong
lối sống của thanh niên, đôi khi tạo ra sự xung đột với lối sống tốt đẹp bản
sắc văn hóa dân tộc. Một lối sống “tiêu thụ” và “nhất thời - sống gấp” đang
hình thành. Nguyên nhân cơ bản có lẽ do ảnh hưởng của mặt trái nền kinh tế thị
trường; sự du nhập của các yếu tố văn hóa ngoại lai mà một bộ phận thanh niên
không biết tiếp thu một cách có chọn lọc, sự non kém về bản lĩnh chính trị của
một bộ phận thanh niên, sự quan tâm không đầy đủ của nhiều gia đình, sự vô cảm
của xã hội,… Để thực hiện Nghị quyết của Đảng nhằm xây dựng đất nước giàu đẹp,
xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Nhiệm vụ to lớn này không chỉ thuộc về các
ngành chức năng mà còn đặt lên vai cả các tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.
Trước đây, đã có nhiều công
trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này.
Tiêu biểu nhất là tác phẩm "Xây dựng nếp sống văn hóa trong thanh thiếu
nhi" của tập thể tác giả (NxbTn, Hà Nội, 1997); Tổng quan tình hình
thanh niên công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi của BCH TW Đoàn TNCS Hồ
Chí Minh (Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2002). Nhiều bài viết của các nhà khoa
học thuộc Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam, Viện Nghiên cứu Thanh niên trên
các tạp chí chuyên ngành. Đặc biệt là Chỉ thị số 19 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy
Thanh Hóa, chương trình hành động số 53 của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Hậu lộc
về “ Đổi mới nội dung, phương thức hoạt
động của Đoàn và phong trào thanh niên trong tình hình mới” đã ít nhiều đề
cập tới những tác động của quá trình hội nhập quốc tế tới thanh niên. Song các
nghiên cứu chưa đánh giá rõ đầy đủ thực trạng và chưa phù hợp với tình hình
trên địa bàn huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Là một người làm công tác thanh
niên,... có nhiều suy nghĩ, trăn trở về vấn đề này và quyết định chọn đề tài: “Giáo dục thanh niên giữ gìn và phát huy
bản sắc văn hoá dân tộc trên địa bàn huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa trong quá trình hội nhập hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp Cao cấp lý luận
chính trị - hành chính của mình.
2. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở làm rõ thực trạng
của công tác giáo dục thanh niên giữ gìn vấn đề giữ gìn phát huy bản sắc văn
hoá dân tộc trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay ở huyện Hậu Lộc,
tỉnh Thanh Hóa, phân tích những tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
trên địa bàn huyện tới đời sống văn hoá của thanh niên và công tác giáo dục đối
với họ, từ đó đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm đẩy mạnh và nâng cao hiệu
quả công tác giáo dục thanh niên giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc
trên địa bàn toàn huyện.
3. Phạm vi đối tượng nghiên
cứu:
*
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Trên địa bàn huyện
Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
- Thời gian: Từ năm 2007 đến nay.
*
Đối tượng nghiên cứu:
- Một số quan điểm của chủ
nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục
thanh niên.
- Công tác giáo dục thanh niên
giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc ở huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
*
Đối tượng điều tra:
Tổ chức Đoàn, đoàn viên, thanh
niên, cán bộ Đoàn, Hội, cán bộ Đảng, chính quyền và các Ban ngành trên địa bàn
huyện có liên quan đến quá trình hội nhập, đến công tác giáo dục thanh niên giữ
gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc ở huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp luận: Phương pháp chru yếu được sử dụng trong luận văn
là phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh
niên, đặc biệt vấn đề văn hóa truyền thống và hiện đại.
Trên cơ sở đó, luận văn sử dụng
các phương pháp cụ thể:
- Phương pháp điều tra xã hội
học, quan sát, phỏng vấn, ghi chép.
- Phương pháp đọc và nghiên cứu
tài liệu.
- Phân tích, tổng hợp, so sánh,
xử lý các số liệu đã có.
5. Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận
luận văn được cấu trúc bao gồm 3 chương:
Chương
1: Cơ sở lý luận chung
Chương 2: Thực trạng công tác giáo dục thanh niên giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa từ năm 2007 đến
nay.
Chương
3: Phương hướng và một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục thanh niên giữ
gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa trong thời gian tới.
CHƯƠNG
1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
1.1. QUAN ĐIỂM CƠ
BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VỀ THANH
NIÊN VÀ CÔNG TÁC GIÁO DỤC THANH NIÊN
1.1.1. Quan niệm về
thanh niên và công tác giáo dục thanh niên
* Quan
niệm về thanh niên.
Thanh Niên: ở Việt Nam ,
khái niệm “Thanh niên” được hiểu theo Luật Thanh niên là từ 16 đến 30 tuổi.
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh: là tổ chức chính trị-
xã hội của thanh niên Việt Nam
do Đảng Cộng sản Việt Nam
và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện. Đoàn bao gồm những
thanh niên tiên tiến, tự nguyện phấn đấu vì sự nghiệp xây dựng đất nước Việt
Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, công bằng và văn minh theo định hướng xã hội
chủ nghĩa.
* Quan niệm về giáo dục thanh niên.
- Giáo dục là một hiện
tượng xã hội, là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, ảnh hưởng tự giác
chủ động đến con người đưa đến sự hình thành và phát triển tâm lý, ý thức, nhân
cách. Giáo dục được hiểu theo nhiều nghĩa:
+ Theo nghĩa rộng giáo
dục là toàn bộ tác động của các chủ thể xã hội (gia đình, nhà trường và xã hội)
đến con người.
+ Theo nghĩa hẹp, giáo
dục được hiểu là quá trình tác động đến tư tưởng, đạo đức, hành vi của con
người, các phương diện hợp thành của nó là: giáo dục chính trị tư tưởng, đạo
đức, giáo dục truyền thống, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục pháp luật, giáo dục lao
động, kinh tế, giáo dục về giới…
1.1.2. Quan điểm cơ bản của chủ nghĩa
Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về thanh niên và giáo
dục thanh niên:
* Quan điểm của chủ
nghĩa Mác- Lênin về thanh niên và giáo
dục thanh niên:
Trong khi nghiên cứu về thanh
niên Mác và Ăng ghen nhận thấy “Thanh niên là cội nguồn, sức sống của dân tộc”.
Nguyên lý giáo dục thanh niên phải là quan điểm của giai cấp công nhân- giai
cấp lãnh đạo cách mạng, mang trong mình bản chất cách mạng và khoa học.
Trong quá trình lãnh đạo cách
mạng, V.I.Lênin cũng nhận thấy rằng thanh niên là một lực lượng đông đảo, có
vai trò to lớn trong sự phát triển của xã hội. Thanh niên không chỉ là một lực
lượng quan trọng trong hiện tại, mà họ là ngày mai của xã hội. Vì thế, chăm sóc
đến sự phát triển của thanh niên chính là sự chăm sóc của xã hội đối với bản thân
xã hội. V.I.Lênin cho rằng, Đảng Cộng sản và Đoàn Thanh niên cộng sản muốn giáo
dục thanh niên, trước hết phải hiểu thanh niên, biết được những tính chất ưu
việt của thanh niên và biết được những nhược điểm của lứa tuổi thanh niên để có
phương thức giáo dục phù hợp.
* Tư
tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên và giáo dục thanh niên:
Kế thừa những di sản tư tưởng
quý báu của chủ nghĩa Mác- Lênin về thanh niên và giáo dục, là người trực tiếp
sáng lập, lãnh đạo, theo dõi Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và phong trào thanh niên,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo các luận điểm Mác xít về vai trò, vị
trí của thanh niên trong xã hội, về giáo dục thế hệ trẻ trong điều kiện lịch sử
cụ thể của cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên một luận điểm
nổi tiếng gắn liền với vấn đề dân tộc đó là: Muốn hồi sinh dân tộc, trước hết
phải hồi sinh thanh niên và người kêu gọi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ
chết mất nếu đám thanh niên sớm già nua của Người không sớm hồi sinh. Hồi sinh
thanh niên là điều kiện tiên quyết để hồi sinh dân tộc. Vì vậy trước lúc đi xa
trong Di chúc của mình Người tha thiết căn dặn Đảng phải: Bồi dưỡng thế hệ cách
mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng, rất cần thiết. Đảng cần phải chăm
lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ trở thành những người xây dựng
CNXH vừa “Hồng”, vừa “Chuyên”.
Theo Hồ
Chủ tịch, sự nghiệp giáo dục đào tạo thế hệ trẻ không chỉ là nhiệm vụ của Đảng,
Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, mà còn là trách nhiệm to lớn, lâu dài của nhà
trường, gia đình và toàn xã hội. Coi đó là lợi ích trường tồn của toàn dân tộc,
Người chỉ rõ: Trường học, gia đình và toàn thể thanh niên phải chú ý đến giáo
dục tư tưởng, thái độ hoạt động và sinh hoạt hàng ngày của thanh niên để kịp
thời khuyến khích, uốn nắn, sửa chữa.
Một trong những nội dung quan
trọng Bác Hồ dạy thanh niên đó là: Yêu
Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu đạo đức. Đó cũng
là 5 đức tính mang đậm bản sắc văn hoá của người Việt Nam . Và muốn vậy, hơn bao giờ hết cán bộ đoàn viên, thanh niên
phải xây dựng cho mình tinh thần độc lập suy nghĩ và chủ động sáng tạo,…
Tư tưởng
Hồ Chí Minh về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau vẫn giữ nguyên
giá trị hiện thực, tính thời sự và có ý nghĩa to lớn cần được các cấp uỷ Đảng,
chính quyền, Đoàn thanh niên và toàn xã hội nghiên cứu, quán triệt, vận dụng
vào công tác vận động giáo dục thanh niên.
* Quan điểm cơ bản của
Đảng Cộng sản Việt Nam
về thanh niên và giáo dục thanh niên:
Đảng Cộng sản Việt Nam từ
khi thành lập luôn luôn đặt công tác thanh niên và giáo dục thanh niên là một
nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Đảng nhận thấy phải đoàn kết, tập hợp thanh niên
Việt Nam
vào một tổ chức cộng sản trẻ tuổi (Đoàn thanh niên). Trong quá trình lãnh đạo
cách mạng, lãnh đạo công tác thanh niên, Đảng ta đã đề ra nhiều nghị quyết, chỉ
thị, quyết định về công tác thanh niên. Những vấn đề về giáo dục thanh niên
được đề cập trong các Nghị quyết từ Đại hội I đến Đại hội XI của Đảng và trong
các nghị quyết chuyên đề về công tác thanh niên như Nghị quyết số 181 của Ban
Bí thư Trung ương Đảng (khoá III) ngày 25/9/1963 về “Tăng cường công tác thanh
niên”, Nghị quyết số 26, ngày 04/7/1985 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá
V) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên”; Nghị quyết
25, ngày 09/02/1991 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VI); Nghị quyết số
04, ngày 04/01/1993 của BCH Trung ương Đảng (khoá VII) về “Công tác thanh niên
trong tình hình mới”; Nghị quyết số 25 ngày 25/7/2008 của Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khoá X về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh
niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”. Qua các nghị quyết của Đảng Cộng
sản Việt Nam
đã thể hiện những quan điểm sau:
- Đánh giá đúng để hiểu, tin và
dựa hẳn vào thanh niên.
- Công tác thanh niên là của toàn
xã hội.
- Công tác thanh niên là một
khoa học.
- Tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng đối với thanh niên.
- Xây dựng Đoàn TNCS Hồ Chí
Minh vững mạnh làm hạt nhân chính trị vững chắc để mở rộng mặt trận đoàn kết
tập hợp thanh niên.
- Tăng cường quản lý Nhà nước
đối với công tác thanh niên.
Nghị quyết
04 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VII) khẳng định:
“Thanh niên ta ngày nay là lực
lượng xã hội to lớn, có tiềm năng hùng hậu. Kế thừa tinh hoa truyền thống của
dân tộc và những thành quả của cách mạng qua mở rộng giao lưu quốc tế, thanh
niên ngày càng có mặt mạnh cơ bản là trình độ học vấn cao hơn trước, tầm nhìn
rộng, nhạy cảm với thời cuộc, giàu lòng yêu nước, có khát vọng mau chóng đưa
đất nước vượt qua nghèo nàn, lạc hậu, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh… thanh niên là lực lượng xung kích trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, sự nghiệp đổi mới có thành công hay không,
đất nước bước vào thế kỷ 21 có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay
không phần lớn tuỳ thuộc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn
luyện thế hệ thanh niên”.
Nghị quyết số 25 ngày 25/7/2008
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X)
đã nêu rõ:
“Tăng cường giáo dục lý tưởng,
đạo đức cách mạng, lối sống văn hoá, ý thức công dân để hình thành thế hệ thanh
niên có phẩm chất tốt đẹp, có khí phách và quyết tâm hành động thực hiện sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”.
“Tăng cường giáo dục truyền
thống văn hoá, lịch sử của Đảng và dân tộc, lý tưởng cách mạng cho thanh niên.
Coi trọng giáo dục thanh niên trong hoạt động thực tiễn và các phong trào thi
đua yêu nước”.
“Xây dựng chuẩn mực đạo đức và
định hướng giá trị mới cho thanh niên theo tư tưởng Hồ Chí Minh”.
“Bảo đảm tính chính trị, sự
định hướng của Đảng làm phong phú và sâu sắc hơn các nội dung giáo dục, nhất là
về lý tưởng, đạo đức lối sống, trong hoạt động báo chí xuất bản, văn hoá, văn
nghệ hướng thanh niên vươn tới giá trị chân- thiện- mỹ”.
“Xây dựng môi trường văn hoá
lành mạnh, tạo điều kiện cho thanh niên nâng cao đời sống văn hoá tinh thần,
phát triển toàn diện”.
“Tăng cường quản lý văn hoá, xử
lý nghiêm các sai phạm, kịp thời ngăn chặn các sản phẩm không lành mạnh tác động
xấu đến thanh niên, nhất là qua Internet và các phương tiện thông tin đại chúng
khác”…
1.2.
QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ VĂN HÓA VÀ XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA
TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC:
1.2.1. Quan niệm về văn
hóa, bản sắc văn hóa:
Văn hoá: Theo UNESCO là tổng thể các giá trị phức hợp các
mặt tình cảm và tri thức, vật chất và tinh thần của một xã hội, cộng đồng, dân
tộc, bao gồm cả phương thức sống, các quyền cơ bản, những truyền thống, nếp
sống. Nó là kết quả của tất cả các thành tích của từng người, toàn thể nhân
loại trong tất cả các lĩnh vực, dưới mọi khía cạnh; từng phạm vi các thành tựu
hoạt động, khả năng hoàn thiện tinh thần nhân
cách và sự tiến bộ chung.
Bản sắc văn hoá dân tộc: là đặc
điểm riêng đặc trưng của nền văn hoá mỗi dân tộc, là cái “hồn”, là sức sống
“nội sinh” của mỗi dân tộc, để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác, nó có
thể biểu hiện một cách trọn vẹn nhất sự hiện diện của mình trong quá trình giao
lưu và hội nhập.
Hội nhập kinh tế quốc tế: Là sự
gắn kết nền kinh tế một nước vào các tổ chức kinh tế quốc tế như: giảm thuế,
giảm hàng rào phi thuế, giảm hạn chế đối với thương mại dịch vụ, giảm thiểu hạn
chế đối với đầu tư, điều chỉnh ngân sách quản lý thương mại, nâng cao năng lực
về văn hoá- xã hội, thuận lợi hoá hoạt động thương mại. Bản chất của hội nhập
kinh tế quốc tế là mở rộng thị trường; tranh thủ vốn và công nghệ thông qua đầu
tư trực tiếp nước ngoài; giải quyết việc làm; tăng trưởng kinh tế; học tập kinh
nghiệm quản lý. Đây là bước đi của mỗi quốc gia dần xoá bỏ tự cung, tự cấp để
hội nhập nền kinh tế toàn cầu.
1.2.2. Bản sắc văn hóa
Việt Nam :
Văn hoá Việt Nam là thành quả
hàng ngàn năm lao động, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng
đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều
nền văn minh thế giới để không ngừng làm giàu đẹp thêm cho nền văn hoá nước ta.
Nguyễn Trãi đã từng khẳng định “Như nước Đại Việt ta từ trước; vốn xưng nền
văn hiến đã lâu”. Truyền thống văn
hoá Việt Nam đã hun đúc nên
tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam , làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang
của dân tộc.
Trong sự nghiệp lãnh đạo đất
nước Đảng ta luôn luôn dành sự quan tâm đặc biệt đối với công tác văn hoá, văn
nghệ. Chính vì thế, ngay từ năm 1943, mười ba năm sau ngày thành lập Đảng, giữa
bộn bề công việc cấp bách, Đảng ta đã có một chủ trương đúng đắn, kịp thời:
công bố một cương lĩnh cho sự nghiệp xây dựng một nền văn hoá mới, nền Văn hoá
Cách mạng Việt Nam Đó chính là “Đề cương văn hoá Việt Nam”. Năm mươi năm
sau, năm 1993, nghị quyết số 04 của Ban chấp hành Trung ương khoá VII ra đời đã
đặt ra yêu cầu đào tạo bồi dưỡng thế hệ thanh niên thành thế hệ con người mới
có lý tưởng cao đẹp, giàu lòng yêu nước, vững vàng về chính trị, kiên định con
đường xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) đã chỉ ra những
phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu và giải pháp có tính chiến lược, lâu dài để xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc về văn hoá chính trị, đạo đức, lôí sống,
đời sống văn hoá và các hoạt động văn
học, nghệ thuật,... Đại hội XI của Đảng đã khẳng định: “ Củng cố và tiếp
tục xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú, đa dạng; tiếp tục đẩy
mạnh nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội,…; triển khai cuộc
vận động xây dựng gia đình Việt nam giữ
gìn và phát triển những giá trị truyền thống của văn hóa, con người Việt Nam;
nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ”.
Một trong những nhiệm vụ chủ
yếu nêu ra tại Đại hội XI của Đảng là: “Phát triển, nâng cao chất lượng giáo
dục và đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực ; phát triển khoa học công nghệ và
kinh tế tri thức. Tập trung giải quyết vấn đề việc làm và thu nhập cho người
lao động, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tạo bước tiến
rõ rệt về thực hiện tiến bộ và công băng xã hội, bảo đẩm an sinh xã hội, giảm
tỉ lệ hộ nghèo; cải thiện điều kiện chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Tiếp tục
xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, bảo tồn và
phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, đồng thời tiếp thi tinh hoa
văn hóa nhân loại. Bảo vệ môi trường, chủ động phòng tránh thiên tai, ứng phó có
hiệu quả với biến đổi khí hậu”.
Từ năm 2005 đến nay các cơ sở
Đảng trên địa bàn huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa đã chỉ đạo xây dựng tổ chức Đoàn
theo yêu cầu nội dung của Nghị quyết XXIV, XXV của Ban chấp hành Đảng bộ huyện
Hậu Lộc về: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên từ năm
2005 đến 2015, với một trong những nhiệm vụ trọng tâm là tăng cường các hoạt động văn hoá, nhằm giáo
dục và nâng cao hiểu biết cho thanh thiếu nhi về các giá trị văn hoá truyền
thống, lòng tự hào và ý thức tự tôn dân tộc góp phần giữ gìn và phát huy bản
sắc văn hoá dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại.
Từ những vấn đề được nêu ở trên
cho ta có thể thấy rõ công tác giáo dục thanh niên giữ gìn và phát huy bản sắc
văn hoá dân tộc luôn được Đảng, Nhà nước và Bác Hồ coi trọng, đặc biệt là trong
giai đoạn hiện nay. Công tác tư tưởng - văn hoá diễn ra trong bối cảnh tình
hình trong nước và quốc tế có nhiều diễn biến nhanh chóng, thời cơ và thách
thức đan xen nhau, đòi hỏi chúng ta phải chủ động hơn nữa trong quá trình giao
lưu hội nhập. Mỗi đoàn viên thanh niên cần xác định việc giữ gìn và phát huy
bản sắc dân tộc thể hiện qua việc sống theo nếp sống văn hoá người Việt là yếu
tố quyết định trong việc hình thành phẩm chất đạo đức cách mạng và nhân cách
trong thời đại mới, là trách nhiệm của
mỗi người Việt Nam .
1.3.
MỤC ĐÍCH, NGUYÊN TẮC, CỦA CÔNG TÁC GIÁO DỤC THANH NIÊN GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN
SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC:
1.3.1. Mục đích:
Mọi hoạt động giáo dục
về văn hoá cho thanh niên nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện
về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý
thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn
hoá, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộng đồng xã hội. Thúc đẩy thanh niên tự hoàn
thiện nhân cách, kế thừa truyền thống cách mạng của dân tộc, phát huy tinh thần
yêu nước, ý chí tự lực tự cường, xây dựng và bảo vệ tổ với mục tiêu: độc lập
dân tộc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh.
1.3.2. Nguyên tắc:
*
Nguyên tắc của công tác tuyên truyền giáo dục thanh niên giữ gìn và phát huy
bản sắc dân tộc trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế:
Công tác giáo dục thanh
niên giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc trong thời kỳ mới được xác định trên
cơ sở những luận điểm chung nhất về yêu cầu của nội dung và hình thức giáo dục
cho thanh niên theo tinh thần của lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,
theo những chuẩn mực của đạo đức cách mạng và nâng cao tính tích cực chính trị-
xã hội, tính tích cực lao động của mỗi cá nhân.
Do đó các nguyên tắc
giáo dục thanh niên giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc trong tình hình mới
cũng đựơc phân thành 2 nhóm: nhóm nội dung và hình thức, phương pháp.
Nhóm nội dung gồm những
nguyên tắc:
Thứ nhất, nguyên tắc chủ đạo
trong nội dung giáo dục là nguyên tắc tính Đảng. Thực chất của nó là công khai
đánh giá các hiện tượng của đời sống xã hội trên lập trường của chủ nghĩa Mác-Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên quyết đấu tranh để bảo vệ và khẳng định lợi ích
của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, lợi ích của thế hệ trẻ. Vì thế,
nguyên tắc này bao gồm cả việc đấu tranh không khoan nhượng với những quan niệm
phản khoa học, xa lạ hoặc thù địch với chủ nghĩa Mác- Lênin, với tất cả những
gì đang cản trở tiến trình đổi mới đất nước, làm phương hại đến lợi ích của
Đảng, của dân tộc.
Thứ hai, nguyên tắc khách quan
là quan trọng nhất trong nội dung giáo dục này. Nhìn thẳng vào sự thật trong đó
có cả thành tựu và những thiếu sót, sai lầm cả thuận lợi và khó khăn trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, từ đó định hướng cho hoạt động văn
hoá của lớp trẻ, phát huy ưu điểm, khắc phục sai lầm, khuyết điểm, tranh thủ
thời cơ thuận lợi, vượt qua khó khăn trở ngại để vươn lên trong học tập, lao
động, sản xuất kinh doanh trong quá trình giao lưu hội nhập quốc tế.
Thứ ba, quan điểm lịch sử- cụ
thể cũng là một nguyên tắc quan trọng. Tính
cụ thể của chân lý là linh hồn sống của chủ nghĩa Mác- Lênin. Vì vậy trong giáo
dục thanh niên giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, cần phải đặc biệt chú ý đến
điều kiện lịch sử- cụ thể hiện nay của đất nước, đang trong trạng thái quá độ
về tất cả các phương diện: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội.
Nhóm phương pháp gồm những
nguyên tắc:
Thứ nhất, nguyên tắc cá thể hoá
trong phương pháp giáo dục xuất phát từ thực tế sau đây: mỗi người sống trong
điều kiện xã hội, địa lý và cơ sở những đặc điểm tâm lý riêng, với trình độ
kiến thức, kinh nghiệm sống cụ thể… Bên cạnh đó, tính hệ thống, tính triệt để
và tính kế thừa là những đòi hỏi mang tính nguyên tắc trong việc xác định các
hình thức, phương pháp giáo dục.
Thứ hai, hấp dẫn và thuyết phục
là một đòi hỏi tất yếu của công tác giáo dục. Nội dung của lý tưởng cần được hệ
thống hoá, sắp xếp một cách lôgic, thông tin được phân loại. Đồng thời sử dụng
các phương pháp khoa học: so sánh, đối chiếu, khái quát hoá và cụ thể hoá, phân
tích và tổng hợp, đi từ cái đơn nhất, từ cụ thể đến trừu tượng và từ trừu tượng
đến cụ thể.
Thứ ba, phải phản ứng
mau lẹ và kịp thời trước những sự kiện làm chấn động dư luận xã hội. Một thông
tin kịp thời mang tính định hướng khách quan, khoa học sẽ gây dấu ấn sâu sức
trong ý thức con người. Trái lại, mọi sự phản ứng chậm chạp, khiên cưỡng sẽ làm
giảm hiệu quả của công tác giáo dục…
Việc tuân thủ một cách nghiêm
túc và triệt để những nguyên tắc nêu trên là điều kiện cần thiết để nâng cao
hiệu quả của công tác giáo dục thanh niên giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
1.4.
GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VỚI THANH NIÊN TRONG QUÁ TRÌNH HỘI
NHẬP LÀ MỘT YÊU CẦU CẤP THIẾT GIAI ĐOẠN HIỆN NAY:
Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) của
Đảng về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã xác
định: Phương hướng chung của sự nghiệp văn hóa nước ta là phát huy chủ nghĩa
yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập, tự chủ tự cường
xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Xây dựng và phát triển nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc tiếp thu tinh hoa văn hóa
nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào
từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào
mọi hình thức sinh hoạt và quan hệ con người tạo nên trên đất nước ta đời sống
tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực
cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh,
xã hội dân chủ, công bằng, văn minh tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.
Trong
quá trình mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế và giao lưu văn hóa cùng với việc
tập trung những giá trị mới của văn hóa Việt Nam đương đại, cần tiếp tục đẩy
mạnh công tác bảo tồn, kế thừa phát huy các giá trị tốt đẹp truyền thống văn
hóa dân tộc và tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới, bắt kịp với sự
phát triển của thời đại. Vừa phát huy mạnh mẽ tính đa dạng, bản sắc văn hóa độc
đáo của các dân tộc anh em làm phong phú nền văn hóa chung của cả nước, vừa
kiên trì củng cố và nâng cao tính thống nhất đa dạng của nền văn hóa, đấu tranh
các khuynh hướng để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.
Xây dựng nền văn hóa Viêt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc nhằm tạo
một nền văn hóa Việt Nam hiện đại có sự thống nhất hữu cơ giữa tính chất “ tiên
tiến” và “bản sắc dân tộc” đậm đà. Tính tiên tiến và bản sắc dân tộc của nền
văn hóa Việt Nam
có mối quan hệ biện chứng tác động, quy định lẫn nhau trong các hoạt động văn
hóa, các lĩnh vực văn hóa.
Quán triệt quan điểm xây dựng
và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, những năm qua các
ban ngành chức năng và tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh từ Trung ương đến địa
phương đã tổ chức nhiều hoạt động nhẳm giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản
sắc văn hoá dân tộc cho thế hệ trẻ thông qua việc tổ chức các hoạt động thực
tiễn và các chương trình hành động cách mạng. Việc vận động đoàn viên, thanh
niên tham gia phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân
cư” hay “Cưới văn minh, lành mạnh, tiết kiệm” là một biểu hiện cụ thể sinh động
của quan điểm thực tiễn.
Ở huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa
hiện nay, bên cạnh việc phối hợp với các ban ngành chức năng, Ban chấp hành Huyện
Đoàn đã quan tâm xây dựng kế hoạch, tổ chức nhiều hoạt động đáp ứng nhu cầu văn
hoá lành mạnh gắn với việc định hướng tiếp thu văn hoá du nhập từ nước ngoài
vào cho thanh niên. Quá trình nỗ lực cố gắng đó đã đưa những chủ trương, nghị
quyết của Đảng về xây dựng đời sống văn hoá mới đến với thanh niên của 27/27 xã,
thị trấn trên địa bàn huyện. Tuy nhiên, công tác giáo dục thanh niên giữ gìn và
phát huy bản sắc văn hoá dân tộc cho thanh niên chưa được quan tâm và đầu tư
đúng mức. Điều này thể hiện trong việc quản lý văn hoá, việc đầu tư cơ sở vật
chất cho công tác bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc trên địa bàn
huyện nhìn chung còn hạn chế; chưa có các thiết chế văn hoá đủ mạnh, đủ sức lôi
cuốn thanh niên,…
Vì vậy, dù đã có nhiều cách làm
hay, sáng tạo trong quá trình triển khai nhưng hiệu quả mang lại chưa cao. Ở hầu
hết các địa phương trong toàn huyện có không ít nhưng biểu hiện thanh niên tiếp
thu văn hoá chưa có chọn lọc, chưa trân trọng giữ gìn những truyền thống văn
hoá cao quý của dân tộc ngay từ trong đời sống.
CHƯƠNG
2
THỰC
TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC THANH NIÊN GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC
Ở HUYỆN HẬU LỘC, THANH HÓA TỪ NĂM 2007 ĐẾN NAY
2.1.
KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÌNH
HÌNH KINH TẾ - CHÍNH TRỊ - VĂN HOÁ - XÃ HỘI VÀ HỘI NHẬP Ở HẬU LỘC:
2.1.1 Điều kiện tự nhiên:
Hậu Lộc là một huyện đồng bằng
ven biển, cách trung tâm thành phố Thanh Hóa 25 km về phía đông bắc. Phía bắc
giáp huyện Nga Sơn, Hà Trung; phía nam và phía tây giáp huyện Hoằng Hóa; phía
đông giáp biển Đông nên khá thuận lợi cho việc phát triển kinh tế biển. Điều
kiện tự nhiên rất đa dạng, giàu tiềm năng với 3 vùng: vùng đồi, vùng đồng bằng
chủ yếu là phù sa và vùng ven biển. Hệ thống giao thông khá phát triển do có
tuyến Quốc lộ 1A, tuyến đường sắt Bắc-
Nam và Quốc lộ
10 chạy qua. Những yếu tố này đã tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế Hậu Lộc
phát triển trên các lĩnh vực nông - lâm nghiệp, thủy hải sản, thủ công nghiệp
và dịch vụ.
2.1.2.
Tình hình chính trị:
* Hoạt động của hệ thống chính
trị tại địa phương:
Những năm qua, các tổ chức trong hệ thống chính trị từ huyện đến cơ
sở đã có nhiều hoạt động tích cực theo chức năng nhiệm vụ, kịp thời động viên
các tầng lớp nhân dân phát huy truyền thống cách mạng, vượt qua khó khăn thử
thách, đoàn kết sáng tạo thực hiện công cuộc đổi mới và đã đạt được những kết
quả quan trọng trên tất cả các lĩnh vực như: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã
hội, an ninh, quốc phòng, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đời sống của nhân
dân toàn huyện.
Tuy nhiên, các tổ chức trong hệ
thống chính trị ở cơ sở còn bộc lộ những thiếu sót, khuyết điểm như: Vai trò
lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở Đảng còn hạn chế, nhất là
việc tổ chức học tập, tuyên truyền phổ biến chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước chưa kịp thời, chưa sâu sắc, việc xây dựng nghị
quyết và chương trình hành động chưa cụ thể, chưa sát hợp với điều kiện địa
phương. Do đó việc tổ chức thực hiện kém hiệu quả, thậm chí có nơi chưa đi đôi
với việc làm; một bộ phận cán bộ thiếu tinh thần trách nhiệm, buông lỏng quản
lý, thiếu dân chủ và xa rời dân; hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
nhân dân còn chậm đổi mới, nội dung và phương pháp chưa sát hợp điều kiện cụ thể,
nhiều hoạt động còn hình thức; sự phối hợp của các tổ chức trong hệ thống chính
trị chưa thật chặt chẽ và thường xuyên,…
* Hệ thống tổ chức của Đoàn TNCS Hồ Chí
Minh huyện Hậu Lộc:
Hiện nay, Đoàn thanh niên Hậu Lộc có 48 cơ sở Đoàn trực thuộc huyện bao
gồm: 27 Đoàn xã, thị trấn; 6 Đoàn trường THPT và Trung tâm giáo dục thường
xuyên, 1 chi đoàn Trường THCS chuyên Lê Hữu Lập; 11 cơ sở Đoàn cơ quan gồm: Chi đoàn cơ quan
Huyện ủy, cơ quan ủy ban nhân dân huyện, cơ quan Bệnh viện đa khoa huyện, công
an huyện, ban chỉ huy quân sự huyện, trung tâm y tế huyện, chi cục thuế huyện,
trung tâm dạy nghề huyện, công ty cổ phần thương mại huyện, khuyến nông huyện, viện
kiểm sát nhân dân huyện. 452 chi đoàn cơ sở, 13.160 đoàn viên, trong đó đoàn
viên trên địa bàn dân cư chiếm tỷ lệ 25% đến 30%; Gần 34.000 thanh niên tham
gia tổ chức Đoàn- Hội, đạt tỷ lệ tập hợp thanh niên là 68,7%.
Cơ cấu thanh niên: Thanh niên
công nhân viên chức chiếm tỷ lệ khoảng 15%, thanh niên nông thôn chiếm tỷ lệ
khoảng 25%, còn lại là thanh niên học sinh, thanh niên trong lực lượng vũ
trang.
Từ những điều kiện tự nhiên đó
đã tác động lớn đến thanh niên huyện Hậu Lộc trong việc giữ gìn và phát huy bản
sắc văn hóa dân tộc của toàn huyện.
2.1.3.
Tình hình kinh tế- xã hội:
Với bờ biển dài 12 km, cùng 2
cửa lạch lớn ( Lạch Trường và Lạch Sung), kinh tế biển đang là kinh tế mũi nhọn
và đang được quan tâm phát triển cả trong khai thác, nuôi trồng và chế biến
thủy hải sản; kỹ thuật khai thác, đánh bắt và vươn khơi của nhân dân ngày càng
phát triển, đánh bắt trên cả 3 vùng biển ( vùng lộng, vùng trung và vùng khơi
xa). Bình quân mỗi năm có trên 800 lượt tàu thuyền vươn khơi đánh bắt hải sản,
với tổng công suất trên 26.000CV ( trên 30 tàu công suất từ 75CV đến 360CV -
thuộc chương trình đánh bắt xa bờ). Mấy năm gần đây do lợi thế bờ biển dài,
nhân dân đã khoanh vùng nuôi ngao, nuôi tôm sú, tôm cành xanh, cá rô phi đơn
tính,… đem lại hiệu quả kinh tế cao. Biển Hậu Lộc có độ mặn cao, kết hợp với
khí hậu, nắng, gió tạo nên nghề muối truyền thống ( có từ những năm 1897). Nghề
muối mỗi năm cung cấp cho thị trường 10 -12 nghìn tấn. Tuy nhiên, ngành nông
nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế của huyện. Từ nhận thức đó,
Hậu Lộc đã có những chuyển đổi mạnh mẽ về cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng mùa
vụ; tăng cường chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật; đẩy mạnh công tác khuyến
nông - khuyến lâm; tích cực ứng dụng các tiến bộ về sinh học, về giống; tăng hệ
số sử dụng đất nhằm nâng cao sản lượng, chất lượng các mặt hàng nông sản. Các
mô hình kinh tế khác như chương trình sinh hóa đàn bò, nuôi lợn ngoại theo quy
trình công nghiệp để xuất khẩu, nuôi gia cầm theo quy trình công nghiệp đã phát
triển khá mạnh. Ngoài ra các mô hình làng nghề đã hình thành như mô hình nghề
Rèn Tiến Lộc, nghề mây tre đan Đa Lộc, nghề rát Bạc ở Hưng Lộc, đóng sữa tàu
thuyền ở Ngư Lộc cùng các nghề khác đang du nhập và phát triển, góp phần vào sự
tăng trưởng kinh tế của toàn huyện. Với quan điểm phát triển toàn diện, bền
vững. Đồng thời để khai thác có hiệu quả vùng đồi, Hậu Lộc đã trồng rừng, phủ
xanh đất trống đồi núi trọc (năm 2013 đạt 1.298,6ha), trồng cây chắn sóng và
lấn biển ( năm 2013 đạt 125,4ha). Cải tạo vườn tạp thành vườn cây ăn quả, hình
thành thêm nhiều trang trại vườn rừng, phát triển mô hình kinh tế VAC, tạo cảnh
quan môi trường xanh, sạch, đẹp.
Trong những năm hội nhập kinh
tế quốc tế, thực hiện Nghị Quyết 02 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa về
“ Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh trên địa bàn tỉnh”. Hậu Lộc đã tích
cực kêu gọi và hiện tại đã xây dựng hoàn thiện 03 công ty, trong đó có 01 công
ty may IVORY Hàn Quốc thu hút hơn 3.000 công nhân, 01 công ty Dụng cụ thể thao
DELTA thu hút gần 300 công nhân, 01 công ty ô tô VINASUKY thu hút 150 công
nhân. Hiện tại đang có 02 công ty đang tiến hành xây dựng, lắp đặt tại huyện. Với
tư tưởng phát triển dịch vụ - thương mại. Với những mặt hàng sẵn có tại địa
phương, Hậu Lộc đã mạnh dạn đầu tư và đưa ra thị trường một số sản phẩm thương
hiệu được xuất khẩu trong nước và quốc tế như Mắm Tôm, Rượu Chi Nê, sản phẩm
Rèn Tiến Lộc, Gạo Hậu Lộc, gần đây là các sản phẩm về các mặt hàng thủy hải sản
chất lượng cao cũng được nhân dân chế biến và xuất khẩu.
Từ sự lãnh đạo sáng suốt của
Đảng bộ Huyện, Hậu Lộc đã đạt được nhiều thành tựu trong lĩnh vực kinh tế, xã
hội như sau: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 12,6%/năm, năm 2007 là
9,8%, năm 2013 đạt 13,2%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, tỷ trọng công
nghiệp- xây dựng và dịch vụ tăng; tỷ lệ nông, lâm, ngư nghiệp giảm. Thu nhập
bình quân đầu người năm 2007 là 8,5 triệu/năm, đến năm 2013 đạt 13,4 triệu/
năm. Diện tích gieo trồng hàng năm đạt 17.300ha. Sản lượng lương thực đạt
74.000 tấn, tăng 8,83% so với năm 2007. Bình quân lương thực đầu người đạt 453
kg. Toàn huyện có 458 trang trại, trong đó có 86 trang trại đạt chuẩn, với thu
nhập bình quân 80-150 triệu đồng/ trang trại/năm trở lên. Sản lượng thủy hải
sản đạt 25.000 tấn, tăng 68,3% so với năm 2007. Sản lượng sản xuất muối biển
đạt 13.500 tấn, tăng 25% so với năm 2007. Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp- xây dựng tăng 158,5% so với năm 2007. Đã giải quyết việc làm mới cho hơn 13.000 lao
động. Tổng số lao động đang làm việc tại nước ngoài là 2.671 người. Công tác
xoá đói giảm nghèo trên địa bàn huyện thực hiện tương đối tốt, tỷ lệ đói nghèo
theo chuẩn mới ở mức dưới 7%, trong khi năm 2007 là 18,6% và năm 2010 là 11,5%.
Chất lượng giáo dục toàn diện có nhiều chuyển biến tích cực, tỷ lệ học sinh lên
lớp và tốt nghiệp đạt từ 98% trở lên. Mỗi năm có từ 1.100 đến 1.550 học sinh đỗ
vào các trường đại học, cao đẳng. Toàn huyện có 58/90 trường đạt chuẩn quốc
gia. Hệ thống y tế từ huyện đến cơ sở được củng cố và tăng cường, cơ sở vật
chất được đầu tư đáng kể; đến nay toàn huyện có 11 Bác sỹ CK1, 22/27 xã, thị
trấn có Bác sỹ, 82% trạm y tế xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế. Tỷ lệ
tăng dân số tự nhiên giảm xuống còn 0,76%.
Dân số toàn huyện tính đến năm
2009 có 163.971 người, sinh sống tại 27 xã, thị trấn. Những năm gần đây, tốc độ
đô thị hoá ngày càng cao, kéo theo sự
thu hút dân số vào các khu công nghiệp, khu đô thị ngày càng lớn. Số lao
động làm ăn xa ngày càng tăng nên dân cư sống ở nông thôn giảm dần.
Mục
tiêu phát triển kinh tế xã hội toàn huyện đến năm 2015 như sau:
- Tốc độ bình quân hàng năm đạt
14,3% trở lên.
- Cơ cấu nền kinh tế chuyển đổi theo hướng tăng
tỷ trọng công nghiệp xây dựng lên 34% trở lên, nông, lâm, ngư nghiệp, thuỷ hải sản
33,5% trở lên, các ngành dịch vụ đạt 32,5% trở lên. Phấn đấu đến 2015 có 500
doanh nghiệp trở lên.
- Sản lượng lương thực ổn định
hàng năm 74.000 tấn; sản lượng thủy hải sản 35.000 tấn; Giá trị hàng hóa tham
gia xuất khẩu đến năm 2015 đạt 25 triệu USD trở lên.
- Tổng vốn đầu tư phát triển
toàn xã hội đạt 3.500 tỷ đồng.
- Giữ vững và nâng cao chất
lượng phổ cập giáo dục Tiểu học, THCS đúng độ tuổi, từng bước phổ cập giáo dục
THPT.
- Ổn định tỷ lệ tăng dân số
dưới 0,7%.
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo
đạt 45%.
- Giảm tỷ lệ đói nghèo trong
toàn huyện xuống dưới mức 4%.
Như vậy,
trong giai đoạn tới việc thực hiện được các mục tiêu quy hoạch phát triển kinh
tế xã hội, chương trình mục tiêu quốc gia “ xây dựng nông thôn mới” sẽ là điều
kiện và môi trường để tuổi trẻ rèn luyện, cống hiến và trưởng thành, xung kích
thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng ở
vùng Biển Đông của Tổ quốc. Nhưng đồng thời sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế kéo
theo là sự chuyển dịch lao động xã hội đã làm cho đời sống văn hoá của thanh niên toàn huyện có những biến đổi sâu
sắc về kinh tế, văn hoá, xã hội. Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc là một bộ phận quan trọng của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ
nghĩa ở nước ta, là sự nghiệp to lớn và lâu dài đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân,
đặc biệt là thanh niên phải phấn đấu với ý chí cách mạng kiên định, với trí tuệ
sáng tạo và tinh thần tự giác cao.
2.1.3.
Tình hình văn hóa:
Hậu Lộc là một vùng đất cổ, có
nhiều di tích lịch sử văn hóa lâu đời và nhiều cảnh quan thiên nhiên xinh đẹp.
Hậu Lộc có nền văn hóa khảo cổ nổi tiếng thuộc hậu kỳ đá mới và sơ kỳ thời đại
đồng thau: “ Văn hóa Hoa lộc”. Cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu ở đầu thời kỳ Bắc
thuộc ( năm 248 SCN) để lại trên đất Hậu Lộc chứng tích lịch sử và những di
tích lớn. Khu vực Duy tinh- Chợ Phủ là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa
của quận Cửu Chân suốt thời Lý- Trần. Hậu Lộc cũng là hậu cứ quan trọng của cuộc
khởi nghĩa Ba Đình ( Nga Sơn) năm 1886 và là quê hương của Phạm Bành, Hoàng Bật
Đạt, Đinh Chương Dương, Lê Hữu Lập, Nguyễn Chí Hiền, Mẹ Tơm,…
Phát huy những giá trị truyền
thống, văn hóa của quê hương. Trong những năm qua, các hoạt động văn hóa đã gắn
với việc tập trung tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước, các nhiệm vụ chính trị của địa phương, biểu dương gương
người tốt việc tốt, các điển hình tiên tiến, góp phần nâng cao nhận thức và mức
hưởng thụ văn hóa của nhân dân. Phong trào “Toàn dân đẩy mạnh xây dựng đời sống
văn hóa” tiếp tục được đẩy mạnh. Toàn huyện có 6 xã, 195 thôn, làng, 52 cơ
quan, trường học khai trương xây dựng cơ quan văn hóa. Có 57 thôn, làng được
công nhận danh hiệu đơn vị văn hóa cấp tỉnh, 6 xã và 162 thôn, làng, cơ quan,
trường học được công nhận đơn vị văn hóa cấp huyện. Việc thực hiện nếp sống văn
minh, gia đình văn hóa được coi trọng, đến nay toàn huyện có hơn 80% số hộ đạt
tiêu chuẩn gia đình văn hóa. Công tác quản lý văn hóa được tăng cường; một số
khu di tích lịch sử văn hóa đã được quan tâm tu bổ, tôn tạo, góp phần giáo dục
truyền thống và thúc đẩy du lịch phát triển. Phong trào thể thao quần chúng
phát triển cả bề rộng và chiều sâu, chất lượng từng bước được nâng lên. Toàn
huyện có 28% số người luyện tập thể dục thể thao, 13,88% số hộ đạt tiêu chuẩn
gia đình thể thao.
Tuy nhiên, hoạt động văn hóa
còn một số tồn tại như: Hoạt động của một số đơn vị sau khai trương chưa quan
tâm đúng mức. Việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới theo Chỉ thị 27
của Bộ chính trị chưa nghiêm túc. Chất lượng giáo dục một số xã vùng đồi và
vùng biển chuyển biến còn chậm. Công tác giáo dục đạo đức, giáo dục pháp luật,
giáo dục ý thức công dân cho học sinh
chưa được quan tâm đúng mức.
2.1.4. Khái quát quá trình hội
nhập ở Hậu Lộc từ năm 2007 đến nay:
* Thành tựu:
+ Lĩnh vực kinh tế:
Hội nhập quốc tế, trước hết và chủ yếu là
trên lĩnh vực kinh tế là một nội dung quan trọng trong đường lối đối ngoại của
Đảng và Nhà nước ta nhằm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đáp
ứng yêu cầu phát triển đất nước. Điều
này được khẳng định rõ nét trong văn kiện ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam
dân chủ cộng hoà, trong văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng
năm 1976, đặc biệt Đại hội VI của Đảng đã khẳng định mở rộng, đa dạng hoá và đa
phương hoá quan hệ kinh tế đối ngoại trên nguyên tắc giữ vững độc lập chủ
quyền, bình đẳng, cùng có lợi, mở ra bước ngoặt trong quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI một lần nữa xác định: Trong
bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường lối và mục
tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Đổi mới toàn diện, đồng bộ với những bước đi thích hợp. Tích cực, chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế phải gắn với chú trọng xây dựng nền kinh tế độc lập, tự
chủ, giữ vững truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc. Mở rộng, phát huy dân
chủ phải gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương và ý thức, trách nhiệm của mỗi
công dân, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và cả cộng đồng”. Đó chính là cơ sở có
ý nghĩa pháp lý đòi hỏi các địa phương phải vận dụng để phát triển hội nhập.
Ngay từ những năm đầu của thời kỳ đổi
mới, do chưa nhận thức được đầy đủ về quá trình hội nhập, do điều kiện kinh tế,
xã hội, cơ sở hạ tầng của địa phương bị tàn phá bởi nhiều năm chiến tranh, kinh
tế địa phương chỉ phụ thuộc vào ngành nông nghiệp. Vì vậy, mặc dù có nhiều cố
gắng nhưng Hậu Lộc chưa có sự quan tâm đúng mức đến công tác giao lưu, hội
nhập. Tuy nhiên, lúc này cũng đã mang mún xuất hiện những sản phẩm, mặt hàng
được giao lưu, xuất khẩu sang các nước khác, đặc biệt là hàng hải sản. Sau Đại
hội Đảng bộ huyện lần thứ XXIV năm 2005, Huyện uỷ, UBND huyện Hậu Lộc đã nhận
thấy xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế và khẳng định chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế và khu vực mà mũi nhọn đầu tiên là thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài coi đó là một trong những giải pháp quan trọng để phát triển kinh tế - xã
hội.
Có thể nói, sau gần 9 năm đẩy
mạnh chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã thu được những kết
quả to lớn. Tính từ năm 2005 đã có Nhà máy ô tô Vinasuky lắp đặt công xưởng và
thu hút hơn 150 lao động; nhà máy Dụng cụ thể thao Delta thu hút trên 3000 lao
động; năm 2007 - nhà máy may công nghiệp IVORY Hàn Quốc vào đầu tư, xây dựng
nhà xưởng, thu hút trên 3000 lao động tại địa phương với mức lương từ 2,5- 3,5
triệu đồng/ tháng, đời sống của nhân dân đã có nhiều đổi mới. Tiếp theo đó, Hậu
Lộc đã chủ động, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vào đầu tư tại huyện. Hiện
tại các nhà máy may, nhà máy chế biến hải sản, nhà máy chế biến ngao và một số
nhà máy may đang được láp đạt, xây dựng và dự kiến thu hút trên 5000 lao động
tại địa phương.
+ Du
lịch - dịch vụ đã và đang mở ra hướng đi
mới của huyện bởi những lợi thế của các địa danh lich sử như Đền Bà Triệu, Chùa
Sùng Nghiêm, khu di tích mẹ Tơm, Đảo Nẹ,... Do được quan tâm đẩy nhanh việc quy
hoạch đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất, tu bổ các khu di tích, xây dựng đội ngũ
theo hướng chuyên nghiệp, đổi mới việc tổ chức các lễ hội dân gian như lễ hội
cầu Ngư ( Ngư Lộc), lễ hội Duy Tinh ( Văn Lộc), lễ hội Đền Bà Triệu ( Triệu
Lộc), Lễ hội đền Hàn Sơn ( Châu Lộc),…; với vị trí địa lý thuận lợi, cảnh quan
thiên nhiên xinh đẹp nên trong những năm qua đã thu hút hàng triệu du khách cả
nước và quốc tế đến thăm quan, du lịch.
+ Hoạt
động thương mại trên địa bàn huyện diễn ra
sôi động, khối lượng hàng hóa lưu thông ngày càng tăng với sự tham gia của
nhiều loại mặt hàng. Tốc
độ tăng trưởng các ngành dịch vụ đạt 15,5%. Tổng mức giá trị bán lẻ hàng hóa và
dịch vụ đạt 523 tỷ đồng, tăng 81,13% so với năm 2007. Giá trị hàng hóa tham gia
xuất khẩu là 8,3 triệu USD. Tổng mức lưu chuyển hàng
hóa từ 2007 - 2013 tăng bình quân 7,24%/ năm. Các hoạt động xuất nhập khẩu có
bước phát triển.
+ Công tác dự án: Từ năm 2007 đến nay toàn huyện đã
tiếp nhận, triển khai 28 dự án do các tổ chức quốc tế, tổ chức phi Chính phủ
tài trợ tập trung vào các lĩnh vực xóa đói giảm nghèo, dạy nghề, xóa mù chữ, phát
triển doanh nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông, thủy lợi, cơ sở trường
học, trạm y tế, bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai, phòng chống HIV/AIDS,
phòng chống ma túy, giúp đỡ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, giáo dục chăm sóc sức
khỏe sinh sản, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, thực hiện kế hoạch hóa gia đình,
chống buôn bán phụ nữ và trẻ em qua biên giới,...
* Hạn chế
Tuy đã có tốc độ
tăng trưởng kinh tế đạt và vượt kế hoạch, song chưa tương xứng với tiềm năng lợi
thế so sánh của huyện; hiệu quả và sức cạnh tranh trong quá trình chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế còn thấp, sức cạnh tranh của sản phẩm địa phương chưa được
cải thiện, chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế.
Đời sống văn hoá- xã hội tuy đã được cải
thiện và nâng cao nhưng có mặt chưa tương xứng với nhịp độ phát triển kinh tế;
một số lĩnh vực bức xúc chưa được giải quyết tốt. Các thiết chế văn hoá còn
thiếu và không đồng bộ, hiệu quả sử dụng còn thấp; đời sống văn hoá ở cơ sở
chưa được quan tâm đúng mức.
2.2. NHỮNG TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC VÀ
TIÊU CỰC CỦA QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ TỚI CÔNG TÁC GIÁO DỤC THANH NIÊN Ở HẬU
LỘC.
2.2.1. Những tác động
tích cực của quá trình hội nhập quốc tế:
Đại hội XI của Đảng ta xác định
“Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều
nước tham gia, xu thế này bị một số nước phát triển và các tập đoàn kinh tế tư
bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn vừa có mặt tích cực, vừa
có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh”.
Quá trình toàn cầu hoá,
liên kết kinh tế ngày càng diễn ra mạnh mẽ, tác động mạnh mẽ lên mọi quốc gia,
mở ra cơ hội cùng với những thách thức to lớn đối với các nước đang phát triển
và nhân dân lao động ở tất cả các nước. Kinh tế tri thức với vai trò to lớn của
công nghệ thông tin sẽ ngày càng chi phối sự phát triển của các quốc gia. Cuộc
đấu tranh của nhân dân và thanh niên thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, vì
phát triển công bằng và bền vững, vì tiến bộ xã hội sẽ tiếp tục có những bước
phát triển mới. Đối với huyện Hậu Lộc, Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXV xác
định "Phấn đấu huy động tối đa nguồn
nội lực, khai thác có hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài, tập trung thu hút có
chọn lọc nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài, phát triển bền vững nền kinh tế gắn
với giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc”. Quá trình chủ động hội
nhập kinh tế khu vực và quốc tế sẽ diễn ra nhanh chóng, các yếu tố nước ngoài
như hàng hóa, công việc, con người, văn hóa, thông tin... sẽ trở thành bộ phận
ngày càng quan trọng và tác động ngày càng sâu rộng đến mọi mặt đời sống vật
chất và tinh thần của thanh niên Hậu Lộc, tạo ra những cơ hội mới đồng thời với
những thách thức mới. Giao lưu, hợp tác và đấu tranh quốc tế diễn ra không chỉ
ở ngoài nước mà còn diễn ra ngay tại trong nước, trong tỉnh, trong huyện với
quy mô ngày càng tăng và tính chất ngày càng đa dạng và phức tạp.
Cả trên phương diện lý luận và thực tiễn cho thấy
quá trình chủ động hội nhập quốc tế ở huyện Hậu Lộc đã và đang diễn ra những
tác động tích cực sau đây đối với thanh niên:
Thanh niên huyện Hậu Lộc hiện có trong cơ cấu
của mọi giai tầng xã hội, mọi thành phần kinh tế. Cùng với sự biến đổi của cơ
cấu kinh tế, của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn liền với quá trình
đô thị hoá làm biến đổi cơ cấu thanh niên theo hướng tăng tỷ lệ thanh niên tham
gia trong các thành phần kinh tế tư nhân, tiểu chủ, tư bản tư nhân, có vốn đầu
tư nước ngoài và giảm tỷ lệ thanh niên ở thành phần kinh tế quốc doanh, thanh
niên trong các cơ quan hành chính sự nghiệp. Cơ cấu thanh niên theo địa bàn dân
cư biến đổi theo hướng tăng ở khu đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất và giảm
ở nông thôn.
Một là:
như trên đã phân tích, rõ ràng thông qua hội nhập quốc tế đã thúc đẩy sự phát
triển sâu rộng của các quan hệ kinh tế quốc tế, tạo cơ hội cho huyện Hậu Lộc
tận dụng được thị trường, khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến của
khu vực và thế giới cho các hoạt động sản xuất- kinh doanh; mở ra khả năng tham
gia nhanh chóng và hiệu quả vào hệ thống phân công lao động quốc tế, tận dụng
nguồn lực phục vụ mục tiêu phát triển. Quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế cùng với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã và đang tạo
tiền đề vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống vật chất tinh
thần của các tầng lớp nhân dân, trong đó có thanh niên . Do hiện thực sinh động
về kinh tế- xã hội của toàn huyện như vậy nên đã tác động tích cực tới thanh
niên Hậu Lộc. Điều này được thể hiện ở chỗ:
- Thanh niên Hậu Lộc tự hào, tin tưởng vào thắng
lợi của sự nghiệp đổi mới trong đó có đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng,
niềm tin ấy ngày càng tăng và có cơ sở khoa học vững chắc hơn. Theo
kết quả thăm dò của Huyện đoàn Hậu Lộc (tháng 5/2012) cho thấy nét nổi bật là
đa số thanh niên Hậu Lộc đều nhận thức đúng đắn những biến động chính trị của
thế giới và chủ trương mở cửa, giao lưu, hợp tác quốc tế, sẵn sàng làm bạn với
tất cả các nước trên thế giới, 98,5% thanh niên công nhân viên chức, 85,2%
thanh niên nông thôn, 97,1% thanh niên học sinh được hỏi tán thành chủ trương
chủ động hội nhập quốc tế.
- Trong thanh niên Hậu Lộc đã ngày càng bộc lộ
rõ tinh thần năng động dám nghĩ, dám làm, tự vươn lên lập thân lập nghiệp, tự
cường, tích cực học tập nghiên cứu khoa học, coi trọng tư duy kinh tế.
Theo báo cáo sơ kết quý 1 năm 2014 của Ban Chấp
hành huyện đoàn Hậu Lộc, toàn huyện có 84 trang trại thanh niên làm chủ với số
vốn đầu tư từ 50 triệu đồng trở lên, thu hút hàng trăm lao động. Đặc biệt là đã
thành lập được Hợp tác xã thanh niên Triệu Lộc với số người tham gia là 27 xã
viên, tổ hợp tác chăn nuôi Minh Lộc với số người tham gia là 30 xã viên. Nhiều
thanh niên đã mạnh dạn mở các xưởng chế biến hải sản, lò rèn, xưởng gỗ, đầu tư
xây dựng trang trại tổng hợp, mua sắm tàu thuyền công suất cao để vươn khơi
phát triển kinh tế. Thanh niên khối công chức, viên chức đã có nhiều tiến bộ
trong việc đã chủ động học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tin
học, ngoại ngữ. Nâng cao hiệu lực cải cách hành chính trong phong trào “ Ba
trách nhiệm” và “ Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí”. 85% thanh niên được hỏi
cho rằng hành trang quan trọng nhất để bước
vào cuộc sống là phải có sức khỏe, trí tuệ, ý chí tự lập, nghị lực vượt
khó và phải có hoài bão. 98% thanh niên học sinh được hỏi trả lời là phải phấn
đấu học để thạo ít nhất một nghề và biết nhiều nghề càng tốt và cho rằng phải
biết ít nhất một ngoại ngữ trở lên. Số thanh niên được đào tạo nghề, xuất khẩu
lao động, tốt nghiệp Đại học, cao đẳng ở Hậu Lộc tăng lên đáng kể.
- Phần lớn thanh niên Hậu Lộc tỏ rõ thái độ bất
bình trước những tệ nạn xã hội và tiêu cực xã hội đặc biệt là tệ tham nhũng,
quan liêu, vi phạm dân chủ:
Huyện đoàn đã phối hợp với Ban tuyên giáo huyện
Ủy phát 100 phiếu hỏi đối tượng đoàn viên thanh niên đã lập gia đình, tách hộ
độc lập thì có tới trên 92 phiếu trả lời rất bất bình trước thái độ sách nhiễu
gây phiền hà của cán bộ công chức chính quyền cơ sở và cấp huyện trong việc
giải quyết các thủ tục giấy tờ liên quan đến khai sinh, hộ tịch, hộ khẩu, nhà
đất cho dân; 8 phiếu khác không tỏ thái độ gì.
Đa số thanh niên Hậu Lộc có nguyện vọng phấn đấu
trở thành đoàn viên, trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, có ý thức xây
dựng chính quyền, góp phần tạo dựng môi trường xã hội lành mạnh, dân chủ, văn
minh. Số thanh niên phấn đấu vào Đoàn tăng lên rõ
rệt, từ năm 2007 -2013 đã kết nạp mới 10.027 đoàn viên, giới thiệu cho Đảng 1.672
đoàn viên ưu tú, trong đó có 1.153 người đã được kết nạp Đảng đạt 68,9% so với
tổng số đoàn viên ưu tú được giới.
Một xu hướng tích cực trong thế hệ trẻ hiện nay
là phấn đấu theo mẫu người lý tưởng phù hợp với những đặc điểm của giai đoạn
cách mạng mới, giai đoạn hội nhập xu thế toàn cầu hoá, công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nếu như trong chiến tranh
cứu nước mẫu người lý tưởng của thanh niên là hình ảnh anh bộ đội Cụ Hồ, trong
thời kỳ bao cấp mẫu người lý tưởng của thanh niên gồm những phẩm chất có phần
nào chung chung trừu tượng (vì tập thể, có tư tưởng đúng, tình cảm đẹp… ) thì
hiện nay, mẫu người lý tưởng của thanh niên cụ thể hơn, hiện thực hơn, sinh
động hơn. Đó là những con người có trí tuệ, giỏi chuyên môn, giỏi ngoại ngữ,
tin học, thạo việc, năng động, tháo vát, thích ứng nhanh với hoàn cảnh mới, có
bản lĩnh, trung thực, giữ được chữ tín với mọi người, biết quý trọng và tiết
kiệm thời gian, tiền bạc, của cải, quan tâm đến năng suất, chất lượng, hiệu
quả, có chí tiến thủ, tiếp cận với khoa học- công nghệ hiện đại, có ý thức hợp
tác và ý thức pháp luật; kết hợp hài hoà giữa vẻ đẹp của hình thức với vẻ đẹp
của trí tuệ và tâm hồn, cống hiến, hưởng thụ và trưởng thành, biết lo cho bản
thân, gia đình và xã hội, gắn nghĩ- nói với làm...
Hai là: chính trong quá trình
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế ở Hậu Lộc và trên địa bàn toàn tỉnh với sự
phát triển mạnh mẽ của các thành phần kinh tế, nhất là tốc độ phát triển các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,… đã mở ra những cơ hội mới giải quyết
ngày càng tốt hơn nhu cầu việc làm và thu nhập của thanh niên, đặc biệt là số
thanh niên đã qua đào tạo. Chỉ tính riêng từ năm 2005- 2013 nhờ đầu tư FDI vào Hậu Lộc đã giải quyết việc làm cho hơn
6.500 lao động, trong đó có 80% là thanh niên. Đồng thời chính quá trình chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế của huyện tất yếu đòi hỏi phải đào tạo nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực trẻ, thúc đẩy sự nghiệp giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ
toàn huyện, đặt thanh niên vào vị trí phải năng động, sáng tạo, chủ động hơn
trong việc học tập, làm thay đổi tư duy, tác phong công nghiệp, tăng khả năng
thích ứng, tiếp cận với khoa học công nghệ hiện đại hội nhập vào đời sống quốc
tế…
Ba là: tạo cơ hội để thanh
niên Hậu Lộc đi ra nước ngoài công tác, lao động, học tập và du lịch ngày càng
nhiều hơn, thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động giao lưu văn hoá và tri thức quốc tế
trong thanh niên, tăng cường sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau và tình hữu nghị
giữa thanh niên Hậu Lộc nói riêng, thanh niên Việt Nam nói chung với thanh niên
các nước trên thế giới. Đặc biệt là những thành tựu của cuộc cách mạng tin học
làm cho các luồng tư tưởng, các sản phẩm văn hoá được truyền bá nhanh chóng và
rộng khắp mà thanh niên là đối tượng “nhạy cảm” nhất, tạo nên những mối quan hệ
xã hội mới trong thanh niên, góp phần làm thay đổi định hướng giá trị của thanh
niên theo hướng phù hợp với xu thế mới hiện nay.
2.2.2. Những tác động
tiêu cực của quá trình hội nhập quốc tế:
Thứ nhất: Trong lĩnh vực kinh tế,
cả nền kinh tế cũng như từng doanh nghiệp phải chịu sự ràng buộc của các quy
tắc kinh tế, thương mại, tài chính tiền tệ, đầu tư chủ yếu do phương Tây áp
đặt, chịu sức ép cạnh tranh bất bình đẳng của sự điều tiết vĩ mô bất hợp lý của
các nước tư bản phát triển. Nếu nội lực doanh nghiệp không đủ mạnh sẽ dẫn tới
tụt hậu, phá sản, tạo ra nguy cơ mất hoặc thu hẹp chỗ làm việc đối với thanh
niên Hậu Lộc - lực lượng lao động chủ yếu hiện nay trong các thành phần kinh
tế.
Thứ hai: Chủ nghĩa đế quốc, đứng
đầu là đế quốc Mỹ lợi dụng xu thế toàn cầu hóa ráo riết đẩy mạnh "chiến
lược diễn biến hòa bình" chống các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, trong đó
có Việt Nam. Ngoài ra tình hình Biển Đông cũng làm mối quan hệ hai nước láng
giềng Việt Nam
-Trung Quốc (cùng phe xã hội chủ nghĩa) đang diễn biến phức tạp. Các lực lượng
thù địch đã ra sức truyền bá chủ nghĩa thực dụng thay thế giá trị nhân văn bằng
giá trị đồng tiền. Từ đó tạo ra tâm lý phủ nhận truyền thống, phủ nhận thành
tựu. Trong đó chúng đặc biệt chú trọng truyền bá chủ nghĩa thực dụng vào lớp
trẻ. Chủ nghĩa thực dụng của chúng truyền bá vào thanh niên trong đó có thanh
niên Hậu Lộc được đặc trưng bởi những nét sau:
- Thay thế cuộc sống có lý tưởng bằng cuộc sống
vì lợi ích trước mắt.
- Phủ định truyền thống,
bản sắc văn hóa dân tộc, du nhập những giá trị của Mỹ và phương Tây với những
nét nổi bật là tự do cá nhân đề cao chủ nghĩa cá nhân.
- Nhấn mạnh giá trị đồng tiền thay thế cho giá
trị nhân bản, tất cả nhìn vào tiền, sùng bái đồng tiền, mong muốn đời sống vật
chất vượt quá mức khả năng kinh tế của đất nước.
Để thực hiện âm mưu đó chúng rất coi trọng sử
dụng hệ thống thông tin đại chúng khổng lồ mà chúng có ưu thế về mặt kỹ thuật
và kinh tế. Lợi dụng quá trình "mở cửa" hội nhập quốc tế, các thế lực
thù địch đã đưa vào Hậu Lộc hằng ngày một khối lượng lớn sách báo, văn hóa phẩm
có nội dung độc hại qua nhiều con đường như Bưu điện, các nhà buôn lái, các
doanh nghiệp, Việt kiều về thăm quê hương, gửi kèm các kiện hàng hóa, gửi qua
hệ thống fax, Internet.
Thứ ba: nước ta sau gần 100
năm nô lệ thuộc Pháp, kế đó là mấy chục năm dốc sức chiến đấu chống ngoại xâm,
chưa kể phải thường xuyên chống trả thiên tai khắc nghiệt, bước vào công nghiệp
hoá, hiện đại hoá trăm thứ bộn bề, chưa đủ thời gian để nghiên cứu đầy đủ, toàn
diện và triển khai giáo dục sâu rộng các tầng lớp thanh niên về văn hoá Việt
Nam và văn văn hoá của người thanh niên Việt Nam nói riêng. Tác động của cơ chế
thị trường đối với văn hoá thể hiện rõ nét nhất qua quá trình thương mại hoá
văn hoá. Thực chất thương mại hoá văn hoá không phải là cái gì khác ngoài việc định hướng đời sống văn hoá vào những
nhu cầu trước mắt của con người. Những nhu cầu này được đáp ứng bằng khả năng
chi trả bằng tiền. Văn hoá đại chúng được du nhập vào nước ta đã nhanh chóng
chiếm lĩnh thị trường toàn quốc và thâm nhập vào mọi giai tầng xã hội. Nó dễ
thích ứng với đông đảo quần chúng có trình độ giáo dục thấp và lứa tuổi Thanh
thiếu niên dễ đi theo trào lưu và tìm kiếm cái thời thượng. Những biểu hiện
tiêu cực dễ nhận thấy nhất ở họ là:
- Lợi dụng các hoạt động
kinh tế đối ngoại, du lịch quốc tế và thông qua công nghệ truyền thông nhất là
qua Internet các giá trị văn hóa Mỹ, văn hóa phương Tây phổ biến tràn lan hướng
vào thanh niên trong đó có thanh niên Hậu Lộc nhằm làm tha hóa thế hệ trẻ bằng
"âm nhạc Mỹ, văn hóa Mỹ, lối sống Mỹ..." nhằm tạo ra một thế hệ mất
gốc, phủ nhận các giá trị truyền thống dân tộc, đua đòi ăn chơi, hưởng thụ...
Thị hiếu thưởng thức kết quả văn hoá tinh thần của nhiều thanh niên thay đổi
theo chiều hướng “sính ngoại”. Từ việc nghe, xem phim, ca hát, các hình thức ca
cải lương, chèo, tuồng, hò vè chỉ thu hút được sự quan tâm của 35% thanh niên.
Một con số quá ít có thể giúp ích cho việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc.
Trong khi đó phim ảnh quốc tế lại chiếm được sự ham mê của tới 47% thanh niên.
Về trang phục, sự phát triển về kinh tế, văn hoá, xã hội, xu hướng công nghiệp
hoá và giao lưu trong ngoài nước hiện nay đã làm thay đổi lớn nhu cầu, thị hiếu
trang phục của thanh niên. Những trang phục truyền thống đã trở nên thiếu hấp
dẫn đối với thanh niên. Họ trở nên yêu thích những trang phục được xem là mốt,
hợp thời trang. Như vậy, sự tác động về văn hoá trong thị hiếu thẩm mỹ của
thanh niên diễn ra theo chiều hướng đan xen giữa tích cực và tiêu cực. Việc
tiếp thu sản phẩm văn hoá hiện đại nước ngoài tạo ra một diện mạo mới trong đời
sống xã hội và có sự phù hợp nhất định trong giao lưu giữa các dân tộc trong
quá trình hội nhập, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống. Nhưng ít nhiều
những thay đổi đó làm cho bản sắc văn hoá trong thị hiếu thẩm mỹ có phần bị mai
một, có khi đã ở mức nguy cơ báo động.
Khi xã hội ngày càng phát triển kéo theo nhu cầu
của con người ngày cao. Đặc biệt Hậu Lộc là huyện có tuyến Quốc lộ 1A, Quốc lộ
10 chạy qua, đa dạng về các loại hình kinh tế, du lịch tâm linh đang ngày càng
phát triển, số lượng tàu thuyền và người tham gia đánh bắt trên Biển Đông lớn,
vì vậy sẽ có điều kiện bị chịu tác động từ những luồng văn hóa mới từ bên ngoài.
Trong đó có những giá trị văn hoá cần trân trọng học hỏi, nhưng cũng dẫn đến
nhiều tệ nạn xã hội nảy sinh như: ma tuý, mãi dâm, trộm cướp… xa dời các giá
trị truyền thống dân tộc. Một bộ phận thanh niên sa vào trạng thái cực đoan
trong nhận thức và hành động, dẫn đến những hành vi lệch chuẩn, biểu hiện rõ
nhất là số thanh niên mắc vào các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, cờ bạc, vi
phạm pháp luật ngày càng gia tăng, diễn biến phức tạp. Toàn huyện hiện có trên 200
người nghiện ma túy được phát hiện có danh sách quản lý của cơ quan chức năng,
trong đó trên 90% là thanh thiếu niên. Thực trạng này do nhiều nguyên nhân
nhưng trong đó có nguyên nhân cơ bản là do mặt trái của hội nhập, của cơ chế
thị trường tác động đến lớp trẻ.
Như vậy, thực chất của những tác động tiêu cực
của quá trình hội nhập quốc tế tới thanh niên Hậu Lộc, đó là: các thế lực thù
địch đang thực hiện "âm mưu diễn biến hòa bình" trong thanh niên,
đánh vào lý tưởng cách mạng, niềm tin, lối sống đạo đức làm thay đổi nhân sinh
quan, thế giới quan khoa học cách mạng của thanh niên. Phân tích làm rõ những
tác động tích cực và tiêu cực trong qúa trình chủ động hội nhập quốc tế của toàn
huyện tới thanh niên là cơ sở để xác định những mục tiêu, nội dung hình thức và
biện pháp giáo dục thanh niên giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc là
việc làm hết sức cần thiết và quan trọng trong điều kiện hiện nay ở huyện Hậu
Lộc.
2.3. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC THANH NIÊN HẬU LỘC VỚI
VẤN ĐỀ GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2007 ĐẾN
NAY.
Ở phần này, trong khuôn khổ của luận văn chỉ tập
trung đi sâu xem xét thực trạng công tác giáo dục thanh niên giữ gìn và phát
huy bản sắc văn hoá dân tộc ở Hậu Lộc dưới các góc độ của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
là chủ yếu.
2.3.1. Những thành tựu cơ bản
của công tác thanh niên và giáo dục thanh niên trong việc giữ gìn và phát huy
bản sắc văn hoá dân tộc ở huyện Hậu Lộc trong thời gian qua:
Trong vài năm trở lại đây, cùng
với sự phát triển kinh tế- xã hội, Nghị quyết Trung ương 5 - khoá VIII của Đảng
về “Xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”
đã thổi một luồng sinh khí mới, làm cho đời sống văn hoá, tinh thần của nhân
dân Hậu Lộc nói chung, của thanh niên Hậu Lộc nói riêng có bước chuyển biến
tích cực, nhu cầu và mức hưởng thụ văn hoá của người dân được nâng lên đáng kể.
Người dân Hậu Lộc có tinh thần yêu nước nồng nàn, có truyền thống cách mạng, có
truyền thống yêu văn hoá nghệ thuật. Phong trào xây dựng các đội văn nghệ quần
chúng, xây dựng gia đình văn hoá phát triển mạnh, cuộc vận động “Toàn dân đoàn
kết xây dựng đời sống văn hoá” được hưởng ứng nhiệt liệt, tạo thành phong trào
thi đua sôi nổi giữa các xã, thị trấn, các cơ quan, trường học trên địa bàn
huyện.
Quán triệt đường lối và những tinh thần trong
các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh đã triển
khai chỉ đạo công tác tư tưởng văn hoá trong hệ thống Đoàn từ huyện tới cơ sở.
Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ X đã xác định “Đẩy mạnh giáo dục lối sống, xây dựng nếp sống văn hoá cho thanh niên,
góp phần hình thành thế hệ thanh niên sống có văn hoá, yêu lao động, giàu lòng
nhân ái, tích cực tham gia thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hoá”.
Từ khi có Chỉ thị số 19 của Ban Thường vụ Tỉnh
ủy Thanh Hóa, Chương trình hành động số 53 của Ban chấp hành Đảng bộ huyện Hậu
Lộc về “ Đổi mới, nâng cao chất lượng
hoạt động của Đoàn và phong trào thanh niên trong thời kỳ mới”, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện Hậu Lộc đã tăng
cường vai trò, từng bước đổi mới nâng cao chất lượng công tác giáo dục lý tưởng
cách mạng cho thanh niên, đảm bảo thực hiện đúng chức năng của mình là trường
học xã hội chủ nghĩa của thanh niên. Điều đó được thể hiện qua những hoạt động
của Đoàn thanh niên toàn huyện thu được một số kết quả như sau:
*Tổ chức các hoạt động định hướng, giáo dục nếp
sống văn hoá cho thanh niên:
Đoàn thực hiện nhiệm vụ định hướng các giá trị
xã hội chủ nghĩa cho thanh niên trong cơ chế thị trường nhằm xây dựng nhân cách
xã hội chủ nghĩa cho thanh niên trên cơ sở các phẩm chất truyền thống của con
người Việt Nam .
Xây
dựng lớp thanh niên giàu lòng yêu nước, có lối sống đẹp, có lý tưởng
cách mạng, có bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam . Trong giai đoạn mới, nhiệm vụ quan trọng của Đoàn là
xây dựng lớp thanh niên giàu lòng yêu
nước, có ý thức cộng đồng, biết xử lý hài hoà lợi
ích của bản thân trong lợi ích chung của tập thể, cộng đồng; có lý tưởng cách mạng và
bản lĩnh chính trị vững vàng; có tri thức, chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng lao
động giỏi; có văn hóa và sống tình nghĩa; có sức khỏe thể chất và tinh thần
lành mạnh; giàu nhiệt huyết sáng tạo và tinh thần tình nguyện. Nổi bật trong thời gian qua là việc tổ chức các
diễn đàn thanh niên "Tiếp lửa truyền thống, mãi mãi tuổi 20", "Tuổi
trẻ sống đẹp, sống có ích". Tổ chức nhiều cuộc thi tìm hiểu như cuộc thi
tìm hiểu “ Bác Hồ với Thanh Hóa- Thanh Hóa làm theo lời Bác Hồ dạy” nhân kỷ
niệm 60 năm lần đầu tiên Bác Hồ về thăm Thanh Hóa, cuộc thi tìm hiểu “ Thăng
Long Hà Nội nghìn năm văn hiến và anh hùng”, “ 50 huyền thoại đường Hồ Chí Minh
trên Biển”, “ Tìm hiểu 70 thành lập Đảng bộ Huyện”,…Tổ chức hội thi “ Tuyên
truyền ca khúc cách mạng”, “ Tuổi trẻ Hậu Lộc tiến bước dưới lá cờ vẻ vang của
Đảng”,… bằng hình thức sân khấu hóa. Tổ chức hội trại hè thanh thiếu nhi hằng
năm đã thu hút hàng triệu lượt người tham gia. Tổ chức trang trọng lễ “ Thắp
nến tri ân” các anh hùng liệt sỹ tại các nghĩa trang nhân ky niệm ngày 27/7
hằng năm. Triển khai thực hiện có hiệu quả cuộc vận động “Tuổi trẻ Việt Nam
học tập và làm theo lời Bác”, thiết thực thực hiện cuộc vận động chính trị lớn
trong toàn Đảng, toàn dân “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.
Từ năm 2007 đến nay, các cơ sở Đoàn trên địa bàn
toàn huyện đã chủ động tổ chức 184 lớp học chuyên đề về tư tưởng Hồ Chí Minh
với trên 23.200 lượt đoàn viên, thanh niên tham gia, tổ chức trên 200
buổi cho trên 25.000 lượt đoàn viên, thanh, thiếu nhi đọc các tác phẩm, các bài
viết, bài nói của Bác; tổ chức cho hơn 13.000 đoàn viên, thanh, thiếu nhi xem
bộ phim “Hồ Chí Minh- chân dung một con người”, “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông”; Các
chi đoàn thuộc khối lực lượng vũ trang xây dựng và duy trì tốt hoạt động của “Phòng
đọc Hồ Chí Minh”; 58/58 Liên đội xây dựng được “Tủ sách thiếu nhi”, 47/58 liên
đội xây dựng cuốn “Nhật ký thiếu nhi làm theo lời Bác”; toàn huyện đã xây dựng
được 34 tủ sách “Tuổi trẻ làm theo lời Bác” với hơn 10.000 cuốn sách và tài
liệu...
Các cấp bộ Đoàn đã và đang triển khai các nội dung của
cuộc vận động: xây dựng tình đoàn kết, tương thân tương ái với cộng đồng, chống bàng quan vị kỷ cá nhân; xây dựng tinh
thần, thái độ học tập say mê, nghiêm túc, làm việc gì cũng phải học, học suốt
đời, tiến quân vào khoa học công nghệ, chống tiêu cực, hư danh, giả dối, không
trung thực; xây dựng tinh thần lao động cần cù, sáng tạo, chống ỷ lại, lười lao
động; xây ý thức tiết kiệm, chống tham nhũng lãng phí xa hoa; Thói quen ứng xử văn hoá, chống lai căng tự do
tuỳ tiện vô kỷ luật (gọi tắt là 5 xây, 5 chống) thành các tiêu chí cụ thể đối
với danh hiệu “Thanh niên tiến tiến làm theo lời Bác”, rèn luyện cán bộ,
đoàn viên, thanh niên, tạo cho cán bộ, đoàn viên, thanh niên thói quen tự phê bình
và phê bình trong tập thể, tự xây dựng kế hoạch tu dưỡng, rèn luyện theo tấm
gương đạo đức của Bác Hồ trong cuộc sống hàng ngày. Phát triển các hình thức
gặp gỡ, học tập những tập thể, cá nhân thanh niên tiên tiến làm theo lời Bác ở
tất cả các cấp, các lĩnh vực, đối tượng.
Từ huyện tới cơ sở đã tăng cường giáo dục truyền thống
vẻ vang của quê hương, của dân tộc, của Đảng, của Đoàn, truyền thống đoàn kết,
ý chí tự cường, tự tôn dân tộc, xây dựng khát vọng chiến thắng nghèo nàn lạc
hậu, tinh thần xung kích, tình nguyện vì cộng đồng. Trong giáo dục đạo đức, lối
sống, Đoàn đề cao giáo dục cho thanh niên lòng yêu lao động, chống thói lười
biếng, lối sống thực dụng, xa hoa, tiêu dùng quá khả năng thu nhập của mình.
Phát động đoàn viên, thanh niên đi đầu đấu tranh bài trừ các hủ tục lạc hậu, mê
tín dị đoan, các văn hoá phẩm độc hại. Đoàn chủ động bồi dưỡng cho thanh
niên các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, định hướng cho thanh niên
tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, kịp thời định hướng, hướng dẫn thanh niên
trước những loại hình nghệ thuật mới; thông tin trên Internet,...
Tiếp tục đổi mới phương thức giáo
dục luật pháp và ý thức cộng đồng cho thanh thiếu nhi, góp phần hình
thành lối sống “Sống và làm việc theo pháp luật”, giúp cho thanh niên thực
hiện tốt hơn quyền và nghĩa vụ công dân, đồng thời giáo dục, cổ vũ thanh niên
gương mẫu chấp hành pháp luật, ý thức kỷ luật lao động, tôn trọng quy ước cộng
đồng, tuân thủ nội quy, quy định của tổ chức. Tổ chức rộng rãi các hình thức tư vấn và trợ giúp pháp lý cho thanh niên,
nhất là thanh niên nông thôn, thanh niên khu vực đô thị và các khu chế xuất,
khu công nghiệp. Giáo
dục ý thức quốc phòng toàn dân và tinh thần quốc tế chân chính, giúp cho mỗi
thanh niên nhận thức rõ trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay,
hiểu rõ bản chất các sự kiện và các quá trình quốc tế, xây dựng cho mình bản
lĩnh chính trị vững vàng, chủ động, sáng tạo trong quá trình hội nhập.
Bên cạnh đó, từ năm 2007 đến nay, Ban Thường vụ Huyện Đoàn cũng gắn
việc thực hiện Cuộc vận động với triển khai tổ chức các phong trào thi đua,
hành động của tuổi trẻ. Phát động và triển khai có hiệu quả phong trào “Thanh
niên tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng”. Toàn Đoàn đó giúp đỡ trên 200 lượt
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ em khuyết tật. Phân công các cơ sở
Đoàn đỡ đầu thường xuyên 34 em, tổ chức 6 đợt khám chữa bệnh nhân đạo và phát
thuốc miễn phí cho hơn 2.000 người dân với số tiền trên 120 triệu đồng; hỗ trợ
giúp đỡ, tặng quà 480 gia đình thương binh liệt sĩ, gia đình chính sách với số
tiền 83 triệu đồng,... Nét nổi bật trong công tác giáo dục truyền thống của
Đoàn thời gian qua là việc triển khai chương trình “Mái ấm nghĩa tình” đã phối
hợp với các doanh nghiệp tham gia tu sửa và làm mới 9 ngôi nhà cho gia đình có
công với trị giá hơn 500 triệu đồng, cùng hơn 500 ngày công của đoàn viên,
thanh niên. Đây là hoạt động có ý nghĩa giáo dục lòng biết ơn sâu sắc của thế
hệ trẻ đối với thế hệ lớp trước. Các phong trào "Đền ơn đáp
nghĩa", "Uống nước nhớ nguồn", triển khai cuộc vận
động "Nghĩa tình biên giới hải đảo" tiếp tục được triển khai sâu rộng
trở thành hoạt động thường xuyên của tuổi trẻ toàn huyện thể hiện ý thức, trách
nhiệm của tuổi trẻ cùng với các cấp, các ngành và toàn xã hội chăm lo cho các
gia đình thương binh liệt sỹ. Hoạt động đã có tác động tích cực tới niềm
tự hào dân tộc, lòng tri ân của thế hệ
trẻ đối với thế hệ cha anh.
Bên cạnh việc tiếp tục tổ chức
các hoạt động giáo dục mang tính truyền thống như: các hoạt động thể thao, văn
hoá, gặp mặt, mít tinh, kỷ niệm gắn với các ngày lễ, ngày kỷ niệm lớn... các
cấp bộ Đoàn - Hội đặc biệt quan tâm tổ chức các hoạt động giáo dục mang tính
chuyên đề, có chiều sâu và hiệu quả thiết thực, có sự đổi mới về hình thức, nội
dung tuyên truyền. Từ nhiều năm nay, các cấp bộ Đoàn toàn huyện thường xuyên
phối hợp với các phòng, ban, ngành địa phương tổ chức nhiều lễ hội văn hoá, các
ngày văn hoá dân tộc như Lễ hội Cầu Ngư ( Ngư Lộc), lễ hội Đền Bà Triệu ( Triệu
Lộc),…Đồng thời tổ chức các hoạt động văn nghệ - thể thao truyền thống như Hội
diễn văn nghệ quần chúng, Hội thi tuyên truyền các ca khúc cách mạng, giải đua
thuyền truyền thống, giải đấu vật, giải chạy việt dã truyền thống, giải kéo co,
bóng đá, bóng chuyền,… Hoạt động văn hoá văn nghệ, thể thao truyền thống đã trở
thành điều không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt của thanh thiếu nhi. Đặc
biệt là trong các dịp lễ tết, dịp hè và các dịp vui khác.
Đoàn Thanh niên các cấp đã tuyên truyền, vận
động thanh thiếu niên tích cực tham gia phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng
đời sống văn hoá” với nhiều mô hình như “Đoàn cơ sở không ma tuý”, “Câu lạc bộ
gia đình trẻ”… Thực hiện chỉ thị 27/CT -TƯ của Bộ Chính trị và Chỉ thị
14/1998-TTg của Thủ tưởng Chính phủ “Về nếp sống văn minh trong việc cưới, việc
tang, lễ hội” đã được tổ chức Đoàn cụ thể hoá tới đoàn viên thanh niên bằng
cuộc vận động “Cưới văn minh, lành mạnh, tiết kiệm” mang truyền thống đạo lý
dân tộc và nghĩa cử cao đẹp. Mô hình phòng cưới văn hóa thanh niên tại xã Ngư
Lộc là một cách làm điển hình toàn quốc, mỗi năm phòng cưới thu hút trên 100 vợ
chồng trẻ đăng ký, mỗi đám cưới chỉ phải tốn 870.000 đồng. Ngoài ra phòng cưới
thanh niên lưu động tại Triệu Lộc cũng đã giúp nhiều thanh niên, gia đình khó
khăn tổ chức vui vẻ, tiết kiệm. Hoạt động của các Đội Thanh niên tình nguyện,
Đội thanh niên xung kích đảm bảo an toàn giao thông, bảo vệ môi trường, đoạn
đường thanh niên tự quản, cổng trường tự quản đã thu hút hàng nghìn thanh niên
tham gia, từ đó đã khơi dậy tinh thần vì cuộc sống cộng đồng của thanh niên.
Đặc biệt Câu lạc bộ “ Vì màu xanh rừng ngập mặn” tại xã Đa Lộc là mô hình hoạt
động có hiệu quả. Qua 5 năm hoạt động, Câu lạc bộ đã trồng và bảo vệ được trên
10 ha rừng ngập mặn, thường xuyên có những hoạt động dọn vệ sinh môi trường ven
biển. Ngoài ra các phong trào “bắt ốc bưu vàng hại lúa”, “tham gia thủy lợi mùa
khô”, “ phong trào “ngày chủ nhật xanh”, “em yêu đường sắt quê em”,… luôn được
duy trì và mang lại hiệu quả thiết thực. Thông qua các hoạt động này đã xuất
hiện nhiều tập thể, nhiều cá nhân tiêu biểu được tôn vinh.
* Thông qua các thiết chế văn hoá, hệ thống
thông tin đại chúng tác động tới việc hình thành lý tưởng cách mạng cho thế hệ
trẻ:
Ở huyện Hậu Lộc hiện nay, các
thiết chế văn hoá được quan tâm đầu tư xây dựng như Nhà văn hoá xã, thư viện,
điểm bưu điện văn hoá xã (có 27 điểm). Hiện nay trong toàn huyện có 1 Sân vận
động lớn và 24 sân vận động có quy mô vừa, 1 bể bơi nước ngọt, 25 sân cầu lông
đạt chuẩn, 1 sân tenis, 8 sân trượt băng nghệ thuật, 1 Nhà văn hóa huyện và
công viên trung tâm. Đây là những nơi diễn ra nhiều hoạt động văn hóa văn nghệ,
thể dục thể thao thu hút ngày càng đông Thanh thiếu nhi đến tham gia sinh hoạt,
giao lưu, tìm hiểu nâng cao kiến thức. Ngoài ra, thực hiện chương trình mục
tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới, bằng sự quyết tâm của nhiều thôn, làng,
nhân dân đã xây dựng mới được 46 nhà văn hóa thôn đạt chuẩn trị giá từ 300
triệu đồng đến 1 tỷ đồng trở lên. Đây cũng là nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng
của các khu dân cư thu hút nhân dân và thanh thiếu nhi tham gia.
Diện phủ sóng của đài truyền thanh được mở
rộng, phủ sóng tới 27/27 xã, thị trấn. Cùng với chương trình mục tiêu quốc gia
về phát thanh, đến nay trên 90% dân số được nghe đài phát thanh. Đặc biệt 27/27
xã phường đều có báo: báo Nhân Dân, báo Thanh Hóa, Thông tin nội bộ,… Ngoài ra
còn có các bản tin của các ngành, đoàn thể ra định kỳ hàng tháng hoặc quý...
Công tác tuyên truyền của Đoàn tiếp tục có sự chuyển biến tích cực và
được phát triển sâu rộng trên các loại hình tuyên truyền. Ở cấp huyện, duy trì
các chương trình phát thanh thanh niên theo định kỳ 2 lần/ tuần. Các cấp bộ
Đoàn - Hội trong toàn huyện đặc biệt quan tâm đến công tác cán bộ làm công tác
tuyên truyền thông qua việc củng cố lực lượng báo cáo viên, tuyên truyền viên
nhằm nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền của Đoàn. Toàn huyện hiện có 37 báo
cáo viên và 575 tuyên truyền viên. Hiện nay trong hệ thống tổ chức Đoàn, Đoàn
thanh niên có 14 đội văn nghệ được lấy
tên là đội tuyên truyền ca khúc cách
mạng (viết tắt là TCM).
Với những
nỗ lực đó trong thời gian qua, công tác giáo dục thanh niên giữ gìn và phát huy
bản sắc văn hoá dân tộc ở huyện Hậu Lộc trong quá trình hội nhập đã và đang có
tác động tích cực tới đời sống văn hoá, nếp sống văn hoá của thanh niên, có thể
nêu mấy điểm cơ bản là:
Đời sống văn hoá thanh niên ở
Hậu Lộc hiện nay chịu nhiều tác động, tuy ở những vùng khác nhau, cấp độ tác
động có khác nhau, tạo nên những chuyển biến khá tích cực, nhưng cũng đặt thanh
niên trước nhiều vấn đề rất đáng quan tâm. Đó là các tác động của cuộc vận động
“Toàn dân toàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, của nền kinh tế thị trường; tác
động của các luồng thông tin, văn hoá đang đến với thanh niên ngày càng nhiều,
của giá trị văn hoá truyền thống, các phong tục và mối quan hệ dòng tộc, họ tộc
và những luật tục. Dưới những tác động đó, đặc biệt là tác động của các điều
kiện mới (Kinh tế thị trường, mở rộng giao lưu và những luồng văn hoá mới),
nhận thức tư tưởng, đời sống văn hoá tinh thần của thanh niên có những chuyển
biến trong quá trình hình thành các giá trị nhân cách mới.
Qua
kết quả điều tra thăm dò ý kiến trong 100 thanh niên thuộc các đối tượng: nông
thôn, công nhân - viên chức, học sinh, lực lượng vũ trang và các đối tượng khác
cho thấy
1. Mong muốn thường
xuyên được giao lưu, sinh hoạt VHVN: 94%
2. Mong muốn được học
tập, nâng cao trình độ: 97%
3. Các sản phẩm văn hoá,
văn nghệ thanh niên yêu thích:
- Về đề tài cách mạng: 79%
- Trang phục dân tộc: 46%
- Các mốt thời trang
hiện đại: 62%
- Nhạc, phim ảnh quốc tế: 47%
- Cải lương, vọng cổ,
tuồng, chèo, dân ca, hò, vè: 35%
4. Quan niệm trong ứng xử văn hoá:
- Tắt lửa tối đèn có
nhau: 91%
- Yêu là đi tới hôn nhân: 82%
5. Tham gia các hoạt động văn hoá, xã hội vui chơi, giải
trí:
|
Thường xuyên
|
Đôi khi
|
Chưa bao giờ
|
Hoạt
động do Đoàn, Hội tổ chức:
|
47,6%
|
25%
|
27,4%
|
Thăm
các khu di tích lịch sử văn hoá, bảo tàng cách mạng:
|
38%
|
47%
|
15%
|
Đi
quán “chát”:
|
29%
|
37%
|
34%
|
Đi
sàn nhảy:
|
4%
|
16%
|
80%
|
6. Thái độ với các hành vi tiêu cực (Nghiện ma tuý, đua xe,
mua bán dâm, không coi trọng các khuôn phép ứng xử xã hội…):
- Phản đối quyết liệt: 51%
- Thông cảm, khuyên bảo: 30%
- Không tỏ thái độ gì: 19%
7. Thái độ về tương lai
đất nước:
- Lo lắng, chưa lạc quan: 40%
- Lạc quan về tương lai đất nước: 60%.
Từ kết quả thăm dò trên, có thể đưa ra một số nhận xét cơ
bản sau đây về mặt tích cực của nhu cầu và thực trạng đời sống văn hoá của
thanh niên hiện nay:
Một là:
Sinh hoạt văn hoá văn nghệ, gặp gỡ giao lưu là nhu cầu thiết yếu trong đời sống
văn hoá thanh niên hiện nay. Vì vậy, tổ
chức hoạt động văn hoá, văn nghệ, sinh hoạt cộng đồng,… là cách tốt nhất để thu
hút, tập hợp và qua đó làm công tác giao dục thanh niên. Thực tế cũng đã chứng
tỏ, ở đâu có phong trào văn hoá văn nghệ thu hút được thanh niên tham gia thì ở
đó hạn chế được việc thanh niên mắc vào tệ nạn xã hội.
Hai là:
Thanh niên có nhu cầu học tập, nâng cao kiến thức (cả về văn hoá, khoa học kỹ
thuật), nhất là kinh nghiệm, kỹ thuật phục vụ sản xuất, giúp họ vươn lên xóa
đói giảm nghèo. Khác hẳn với trước đây, phải vận động rất nhiều người dân mới
đi học. Hiện nay, do nhu cầu học tập, nhiều gia đình có kinh tế đã đưa con em
mình đi học ở các trung tâm giáo dục chất lượng cao hoặc cho đi du học ở nước
ngoài. Phong trào học tập, khuyến học, khuyến tài, phong trào xây dựng xã hội
học tập đã được quan tâm và chất lượng nâng lên đáng kể. Từ đó, trình độ văn
hoá của thanh niên tăng lên rõ rệt. Phong trào “Thanh niên tình nguyện xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc” với các chương trình, dự án kinh tế-xã hội của huyện nói
chung, của Đoàn nói riêng được thanh niên đặc biệt quan tâm và hưởng ứng. Các câu
lạc bộ khuyến nông, khuyến lâm, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, các
điểm bưu điện văn hoá xã, các tủ sách của Trung tâm thư viện huyện, các trung
tâm học tập cộng đồng, các điểm bưu điện văn hóa đã thu hút đông đảo thanh niên
đến tham gia sinh hoạt và đọc sách.
Trong cơ chế mới, nhiều thanh niên đã thực sự năng động,
có ý chí tiến thủ, đi đầu trong phong trào lao động sản xuất, ứng dụng khoa học
kỹ thuật và công nghệ mới, làm giàu cho bản thân, gia đình và đóng góp cho xã
hội. Với phương trâm “ mỗi cơ sở Đoàn có công trình, mỗi thanh niên có phần
việc”, trong thời gian qua đã có 91 công trình, phần việc thanh niên làm lợi
cho địa phương hàng trăm triệu đồng; các mô hình thành niên giúp nhau làm kinh
tế, nhanh chóng áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi, sản xuất. Đặc
biệt đã xuất hiện thêm hơn 20 trang trại với vốn đầu tư trên 1 tỷ đồng, các mô
hình trồng các cây có năng xuất cao đã được trồng đạt hiệu quả như vật thổ, cây
ngô ngọt, hạt tiêu, dưa bao tử,... Nhờ đó các hoạt động của Đoàn, Hội Liên hiệp
thanh niên ngày càng giàu tính thiết thực, phù hợp với nhu cầu và yêu cầu của
thanh niên. Cùng với tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao,
giao lưu, học tập, các tổ chức thanh niên còn đứng ra tín chấp, vay vốn, hướng
dẫn thanh niên làm ăn, vươn lên xoá đói giảm nghèo, giúp thanh niên tự tin hơn,
vượt qua những khó khăn trong cuộc sống. Cũng nhờ các hoạt động này, các tổ
chức Đoàn triển khai công tác tuyên truyền, giáo dục thanh niên về các chủ
trương, chính sách pháp luật của Nhà nước, về nếp sống văn hoá, về đạo đức, lối
sống, phát huy tính tích cực trong thanh niên, hạn chế, ngăn chặn các tiêu cực
về tệ nạn xã hội. Các hoạt động giàu tính cộng đồng này đã góp phần quan trọng
tăng cường sự đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau trong thanh niên các dân tộc.
Đã có nhiều mô hình thanh niên làm kinh tế giỏi, xây dựng gia đình no ấm, hạnh
phúc.
Ba
là: Giá trị đạo đức, tư tưởng
chính trị, lối sống vẫn là những giá trị đạo đức cốt lõi của nhân cách con
người Việt Nam được thanh niên giữ gìn và phát huy. Phần lớn thanh niên có thái
độ cương quyết trước những biểu hiện đi ngược lại với giá trị truyền thống đạo
đức dân tộc. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, dân tộc Việt Nam đã rèn đúc, tôi
luyện cho mình nhiều phẩm chất tốt đẹp. Đó là năng lực tự chủ, sáng tạo trong
chống giặc ngoại xâm; sự hình thành một hệ giá trị cốt lõi của văn hoá dân tộc
với tinh thần yêu nước, ý chí tự lực tự cường, tinh thần đoàn kết, ý thức cố
kết cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, sự
khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý, lấy nhân nghiã làm gốc; trách nhiệm của cá
nhân đối với cộng đồng làm trọng, cần cù, khiêm tốn, giản dị trong lối sống.
Ngày nay, bên cạnh những đức tính mới do yêu cầu của thời đại thanh niên Hậu
Lộc vẫn giữ được những đức tính truyền thống cao quý đó, thể hiện ở kết quả
thăm dò từ 100 đoàn viên thanh niên: 85% thanh niên quan tâm tới thăm di tích
lịch sử, văn hoá; 30% thanh niên biết thông cảm, chia sẻ và động viên khuyên
bảo những người mắc vào các tệ nạn xã hội; 91% thanh niên quan niệm con người
trong cộng đồng phải yêu thương giúp đỡ nhau; 82% thanh niên quan niệm yêu là
đi tới hôn nhân; 79% thanh niên thích thưởng thức các sản phẩm văn hoá đề tài
cách mạng và 60% thanh niên lạc quan tin tưởng vào tương lai của đất nước.
2.3.2. Những hạn chế, yếu kém:
Thứ nhất, xét trên mặt số lượng, các hoạt
động định hướng, giáo dục thanh niên giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân
tộc trên địa bàn huyện còn đạt rất thấp.
Thứ
hai, việc xây dựng một môi
trường văn hoá thuận lợi cho việc giáo dục, truyền thụ các giá trị văn hoá
truyền thống cho thanh niên hiện nay còn nhiều điều đáng bàn. Hầu hết các gia
đình được được phỏng vấn đều phàn nàn về sự quan tâm chưa đầy đủ của chính
quyền, đoàn thể, cộng đồng đến việc tổ chức, hướng dẫn thanh niên tham gia sinh
hoạt văn hoá lành mạnh. Sự hạn chế về các tụ điểm sinh hoạt văn hoá (hiện nay
toàn huyện chưa có nhà văn hóa thanh niên, chưa có cung văn hóa thanh thiếu
niên); sự đơn điệu về hình thức sinh hoạt đang là những trở lực to lớn đối với
việc truyền dạy văn hoá dân tộc cho thanh niên. Nhu cầu vui chơi giải trí của
thanh niên hiện nay là rất lớn. Điều này có sự tác động của quá trình hội nhập,
tiếp xúc giao lưu văn hoá rộng rãi. Nếu như trước kia thanh niên chỉ biết đến
những hình thức vui chơi giải trí dân gian truyền thống thì nay nhiều trò chơi
nước ngoài đã du nhập và trở thành phổ biến ở nước ta (dancing, game oline…).
Chỉ với một vài thiết chế văn hoá giản đơn, rõ ràng chúng ta đã không làm thoả
mãn nhu cầu của họ, càng không nâng cao được việc giáo dục truyền thụ các giá
trị văn hoá truyền thống.
Thứ ba, một mặt, chúng ta chủ trương xây dựng nền văn hoá nước
ta là “nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” và đã có nhiều chính sách
nhằm thực thi chủ trương này, song bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước về
văn hoá nhiều lúc, nhiều nơi còn lỏng lẻo, sự buông lỏng quản lý thị trường về
văn hoá đã dẫn đến tình trạng lưu hành trôi nổi, các loại hình văn hoá, nghệ
thuật phi truyền thống, phi nhân văn bằng các con đường vào nước ta, tác động
xấu tới thanh niên làm phai nhạt các giá trị văn hoá truyền thống.
Thứ tư, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng để giáo
dục thanh niên giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong quá trình hội
nhập, đứng trên góc độ hiệu quả còn bộc lộ một số mặt yếu kém sau đây:
- Mặc dù số lượng
sách, báo phát hành khá lớn, song nhiều thanh niên nhất là ở vùng có đời sống
kinh tế khó khăn, xa khu trung tâm vẫn chưa có sách báo để đọc vì không có đủ
tiền để mua.
- Chất lượng tin, bài,
phóng sự, thậm chí cả các chương trình nghệ thuật, phim truyện trên truyền hình
còn đơn điệu, trình độ nghệ thuật thấp, chưa hấp dẫn và có sức thuyết phục
thanh niên.
- Thiếu định hướng tư
tưởng trước một số hiện tượng tiêu cực xảy ra trong thanh niên mà lại lệch theo
hướng đưa tin "một chiều" giật gân vì mục đích thương mại.
Thứ năm: ở Hậu Lộc, mặc dù chất lượng giáo dục mũi nhọn ngày một
nâng cao, giáo dục toàn diện được quan tâm nhiều hơn. Tuy nhiên, chất lượng
giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức trong hệ thống trường phổ thông chưa đáp
ứng được yêu cầu của thực tế. Điều đó thể hiện ở chất lượng các sách giáo khoa,
giáo trình các môn học giáo dục công dân chưa thực sự được coi trọng, thể hiện rõ nhất là: chất lượng đội ngũ giáo viên vừa
thiếu vừa bất cập; phương pháp giảng dạy các môn học này chưa phù hợp với xu
thế hiện nay nhưng lại chậm được đổi mới, khắc phục.
2.3.3. Phân tích nguyên nhân và rút ra những bài
học kinh nghiệm:
* Nguyên
nhân của những thành tựu:
Cùng với các cấp, các ngành và các đoàn thể, Đoàn TNCS Hồ
Chí Minh huyện Hậu Lộc đã quán triệt quan điểm xây dựng và phát triển văn hoá
là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân. Từ đó làm tốt công tác tuyên truyền, giáo
dục tư tưởng, ý thức gìn giữ truyền thống quý báu của dân tộc.
Huyện ủy, Ủy ban nhân dân Huyện đã có nhiều quan tâm hơn
cho các hoạt động của Đoàn thanh niên như quan tâm chỉ đạo, tạo nguồn kinh phí
tổ chức các hoạt động trại hè truyền thống, các giải thi đấu thể dục thể thao,
các cuộc thi văn nghệ quần chúng, tiếng hát thanh niên,… Huyện đã chú ý bồi
dưỡng nâng cao trình độ chính trị, quan điểm sáng tạo cho cán bộ văn hoá trẻ
tuổi. Tổ chức Đoàn các cấp đã xây dựng
được đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên gắn bó sâu sắc với sự nghiệp cách
mạng cao đẹp của Đảng.
Tổ chức các phong trào, mô hình hoạt động văn hoá đáp ứng
được nhu cầu, nguyện vọng giao lưu, học hỏi chính đáng của thanh niên. Tạo ra
môi trường để thanh niên lĩnh hội, tiếp thu những nét văn hoá đẹp du nhập từ
nước ngoài đồng thời giúp thanh niên nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của
những giá trị văn hoá mang bản sắc dân tộc đối với việc hình thành nhân cách
con người mới XHCN trong quá trình giao lưu, hội nhập quốc tế.
* Nguyên
nhân của hạn chế:
Lý
giải thực trạng này có nhiều nguyên nhân. Nhưng nguyên nhân cơ bản nhất năm
ngay trong hệ thống giáo dục, từ các thể chế, chính sách của các chủ thể giáo
dục, từ công tác quản lý Nhà nước đối với sự nghiệp văn hoá. Nếu xét thanh niên
là đối tượng chính trong ý nghĩa là người tiếp thu, giữ gìn vốn văn hoá thì
thấy rằng có mấy điểm cần chú ý:
+
Nguyên nhân chủ quan:
-
Chúng ta chưa tìm ra phương thức sinh hoạt văn hoá dân gian trong cộng đồng đủ
sức cuốn hút niềm say mê của thế hệ trẻ. Hay nói cách khác hoạt động của loại
hình văn hoá này chưa được quan tâm đúng mức.
-
Công tác tuyên truyền, giáo dục về các giá trị văn hoá dân gian truyền thống
chưa ngang tầm, vị thế chưa khơi dậy được trong thanh niên niềm tự hào về các
giá trị văn hoá của dân tộc mình.
-
Công tác đầu tư để khai thác kho tàng văn hoá còn lưu giữ trong các nghệ nhân
để truyền dạy cho thế hệ thanh niên chưa được chúng ta chú ý đúng mức.
- Đội ngũ cán bộ làm
công tác tư tưởng - văn hóa của Đoàn còn thiếu, yếu về chuyên môn, nghiệp vụ.
Cán bộ Đoàn ở một số cơ sở còn thụ động trông chờ vào sự chỉ đạo hướng dẫn của
cấp trên, còn xem nhẹ và chưa thực sự coi trọng chỉ đạo của tổ chức các nội
dung của công tác này dẫn đến hiệu quả công tác giáo dục chưa cao.
-
Một số gia đình do tác động của nền kinh tế nên đã buông lỏng quản lý đoi với
con em mình; các biên pháp giáo dục văn hóa từ văn hóa gia đình đang bị mai một
do qua trình đô thị hóa, công nghiệp hóa.
+ Nguyên nhân khách
quan:
-
Việc quản lý văn hoá của các cấp bộ ngành có trách nhiệm còn nhiều sơ hở đã
không tạo ra được một cấu trúc hợp lý
của nền văn hoá Việt Nam xã hội chủ nghĩa tiên tiến, giàu bản sắc dân tộc. Các
văn bản văn hoá của các cấp, các ngành tuy đã ra đời nhưng không đồng bộ.
-
Một bộ phận không ít thanh niên bị mất phương hướng trước những lai tạp của văn
hoá từ bên ngoài đã dẫn đến có tâm lý đánh giá thấp di sản văn hoá của tổ tiên.
-
Cho đến nay, nhiều cấp uỷ vẫn còn cho rằng công tác thanh niên là nhiệm vụ
riêng của tổ chức Đoàn. Bên cạnh đó, một số cấp uỷ “khoán trắng” công tác thanh
niên cho Đoàn thanh niên hay cho một cấp uỷ viên. Công tác tuyên truyền giáo
dục thanh niên giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc chưa được quan tâm
đúng mức.
Những
nguyên nhân cơ bản nêu trên đặt ra yêu cầu cấp thiết cho những nhà nghiên cứu
văn hoá dân tộc, các cơ quan chức năng về văn hoá và tổ chức Đoàn phải có giải
pháp khả thi trong công tác sưu tầm, bảo tồn và phát triển vốn văn hoá dân gian
vô giá này.
*
Bài học kinh nghiệm:
Một là,
tranh thủ nhiều hơn nữa sự chỉ đạo của các cấp ủy Đảng đối với công tác thanh
niên và giáo dục thanh niên. Nâng cao nhận thức đến từng cán bộ, đảng viên,
từng chi bộ, từng gia đình về trách nhiệm giáo dục thế hệ trẻ.
Hai là,
tăng cường đầu tư các thiết chế văn hóa đáp ứng nhu cầu vui chơi lành mạnh hơn
cho thanh thiếu niên. Tăng cường quản lý Nhà nước đối với công tác thanh niên,
quản Lý nhà nước đối với văn hóa, đặc biệt là thị trường văn hóa. Thu hút đầu
tư có chọn lọc, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho thanh niên.
Ba là,
đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt là giáo dục đạo
đức, lối sống cho học sinh trong các trường học. Tăng cường nâng cao kiến thức
về ngoại ngữ, tin học để kịp thời đáp ứng nhu cầu hội nhập. Tạo môi trường thân
thiện, lành mạnh cho thanh thiếu niên vừa học, vùa vui chơi.
Bốn là,
đổi mới nội dung, phương thức tổ chức các hoạt động văn hóa để thu hút nhiều
hơn nữa thanh thiếu nhi tham gia hoạt động.
Năm là,
tích cực xây dựng đội ngũ cán bộ Đoàn – Hội, cán bộ văn hóa các cấp đảm bảo yêu
cầu về trình độ văn hóa, có năng lực tổ chức thực hiện và kỹ năng hoạt động; có
quan điểm chính trị và bản lĩnh vững vàng trong giai đoạn hội nhập.
CHƯƠNG 3
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI
PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC THANH NIÊN GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC
VĂN HOÁ DÂN TỘC Ở HẬU LỘC, THANH HÓA
TRONG THỜI GIAN TỚI
3.1. PHƯƠNG HƯỚNG CHUNG:
Phát
triển văn hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, kết hợp với tiếp
thu tinh hoa văn hóa nhân loại là nội dung quan trọng. Cách tốt nhất để bảo tồn
phát huy văn hoá truyền thống là chúng ta phải bảo tồn nó trong trạng thái phát
triển, nhằm vừa giữ được bản sắc văn hoá dân tộc vừa phục vụ tốt sự nghiệp phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước, hội nhập vào thế giới. Việc giữ gìn bản
sắc văn hoá không chỉ đơn thuần là lưu giữ lại, bảo tồn những sản phẩm văn hoá
truyền thống vốn có từ bao đời, mà quan trọng hơn là tìm tòi, sáng tạo, theo
kịp với đòi hỏi của người hưởng thụ, tạo nên lòng tự hào về những giá trị
truyền thống của dân tộc trong lòng công chúng, nhất là thế hệ thanh niên. Giữ
gìn bản sắc văn hóa dân tộc không có nghĩa là kỳ thị, "đối lập" với
các nền văn hóa khác mà thông qua hội nhập, giao lưu chúng ta sẵn sàng tiếp thu
các yếu tố nhân bản, hợp lý, khoa học, tiến bộ của nền văn minh nhân loại. Đồng
thời kiên quyết chống lại mọi sản phẩm phản văn hóa trong quá trình hội nhập xu
thế toàn cầu hóa.
Trong điều kiện hội nhập xu thế toàn cầu hóa ngày
càng sâu rộng như hiện nay, hơn lúc nào hết phải đề cao và coi trọng tinh thần
tự lực, tự cường, giữ gìn và phát huy bản lĩnh và bản sắc dân tộc đang trở
thành một yêu cầu cấp bách, để hội nhập mà không bị hòa tan, không tự đánh mất
mình.
Phải giải
thoát thế hệ trẻ khỏi tâm lý vọng ngoại, chuộng ngoại, sùng ngoại. Phải làm cho
thanh niên hiểu rằng, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc là một biểu
hiện của lòng yêu nước. Tinh thần yêu nước là giá trị hàng đầu, là thước đo giá
trị nhân phẩm của con người, là hằng số trong mỗi con người Việt Nam , là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử
Việt Nam
từ thời các vua Hùng dựng nước đến nay. Cốt lõi của các giá trị văn hóa là hệ
tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Đảng ta xác định văn hóa là nền tảng tinh thần
của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển
kinh tế - xã hội. Với tính cách là động lực của sự phát triển văn hóa khơi dậy
và nhân lên mọi tiềm năng sáng tạo của con người, đặc biệt là thế hệ trẻ vì nói
tới văn hóa là nói tới con người - nguồn lực quyết định nhất của sự phát triển.
Cần giáo dục thanh niên giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII): “Bản
sắc dân tộc Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng
đồng các dân tộc Việt Nam, được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh
dựng nước và giữ nước”. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân
tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã
- tổ quốc, lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức cần cù, sáng
tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống. Biểu hiện cụ thể nhân cách là 5 đức tính cơ
bản: Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và
chủ nhĩa xã hội, có ý chí vươn lên, đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu,
đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hoà bình, độc lập
dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội; có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì
lợi ích chung; có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực,
nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo
vệ và cải thiện môi trường sinh thái; lao động chăm chỉ, với lương tâm nghề
nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo năng suất cao vì lợi ích của bản thân, tập thể,
gia đình và xã hội; thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên
môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành
Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác tư tưởng lý luận trong tình hình mới,
Đảng ta một lần nữa khẳng định: Những giá trị văn hóa tinh thần bền vững của
dân tộc Việt Nam là lòng yêu nước nồng nàn, ý thức cộng sâu sắc, đạo lý
"thương người như thể thương thân", đức tính cần cù, vượt khó, sáng
tạo trong lao động...
Bên cạnh đó, hướng thanh niên Hậu Lộc phát huy
bản sắc văn hoá của dân tộc, biểu hiện bằng việc hình thành những những phẩm
chất của người lao động mới đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thời kỳ đẩy mạnh
hội nhập xu thế toàn cầu hóa để công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Những phẩm chất
ấy như: Ngoài sự cần cù, cần phải giỏi chuyên môn, thạo việc, sáng tạo; thẳng
thắn, trung thực, giữ chữ tín; sống và làm việc theo pháp luật; quý trọng, tiết
kiệm thời gian, tiết kiệm trong tiêu dùng; có tư duy thực tế, tiếp cận khoa
học-công nghệ mới; có kiến thức và kỹ năng giao tiếp xã hội; quan tâm đến năng
suất, chất lượng, hiệu quả; chủ động tự giác, khiêm tốn, cầu tiến bộ, có bản
lĩnh; có ý thức thi đua, hợp tác; có khả năng thích ứng nhanh với môi trường
mới… Hay nói cách khác là người lao động có văn hoá kinh tế, văn hoá chính trị,
văn hoá pháp luật, văn hoá đạo đức, văn hoá thẩm mỹ, văn hoá sinh thái, văn hoá
tiêu dùng, văn hoá giao tiếp, văn hoá hoạt động tập thể....
3.2.
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC THANH NIÊN TRONG VIỆC
GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC DÂN TỘC TRONG THỜI GIAN TỚI:
3.2.1. Tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác
tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho thanh niên:
Cần nâng cao hơn nữa công tác
tuyên truyền, giáo dục cho thanh niên nhận thức một cách đầy đủ về công tác gìn
giữ, phát triển các giá trị văn hoá truyền thống. Coi phát triển sự nghiệp văn
hoá là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, coi đầu tư cho văn hoá là đầu tư
cho con người và cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Khơi dậy trong thế
hệ trẻ niềm đam mê, lòng tự tôn, tự hào
về văn hoá truyền thống của dân tộc mình.
Giáo dục kết hợp với tự
giáo dục. Các chủ thể giáo dục cần chú ý khích lệ, hướng dẫn, giúp đỡ, hỗ trợ
để thanh niên tự nhận ra nhận ra các giá trị của văn hoá truyền thống, thường
xuyên đối thoại với thanh niên, cùng tham gia hoạt động với thanh niên, mọi sự
áp đặt, quy chụp, quy kết, khuôn sáo, khiễn cưỡng, cấm đoán, ép buộc trong giáo
dục đều không mạng lại kết quả mong muốn.
3.2.2. Đổi mới việc tổ chức các hoạt động của các
tổ chức thanh niên, tạo môi trường cho thanh niên cống hiến và trưởng thành:
* Giải pháp về hoạt động của tổ
chức Đoàn- Hội:
- Tăng cường hoạt động văn hoá
trong các tổ chức thanh niên (Hội LHTN Việt Nam , Đoàn TNCS Hồ Chí Minh), thông
qua các hoạt động tạo ra sức cuốn hút thanh niên. Công tác giáo dục tư tưởng
văn hoá trong lực lượng thanh niên mang đặc thù riêng, với tâm lý của tuổi trẻ
là thích sôi nổi, không chịu gò bó, cứng nhắc. Do đó, xây dựng, củng cố tổ chức
Đoàn có đủ bản lĩnh, có trí tuệ và thật sự là môi trường văn hoá trong sáng,
lành mạnh bằng những phương thức linh hoạt để đủ sức tập hợp, thu hút thanh
niên làm cho thanh niên tha thiết với sinh hoạt Đoàn.
- Đoàn- Hội có nhiệm vụ tổ chức
các hoạt động đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của thanh niên, thông qua đó định
hướng, tuyên truyền, giáo dục giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc,
khơi dậy niềm tự hào về một quá khứ hào hùng của quê hương, đất nước trong
thanh niên và quan trọng là phải làm cho đoàn viên thanh niên thấy được sản
phẩm văn hoá du nhập nào nên tiếp thu, sản phẩm văn hoá du nhập nào đi ngược
lại với văn hoá, đạo đức dân tộc. Vấn đề này lâu nay được coi là khó khăn đối
với tổ chức cơ sở Đoàn . Vì vậy, cần đầu tư nhiều hơn cho việc đổi mới các phương
thức hoạt động giáo dục, có như thế thì chất lượng hiệu quả mới cao. Công tác
tuyên truyền giáo dục của tổ chức cơ sở cần gắn với các này lễ lớn, bằng những
cuộc vân động, các cuộc thi, các loại hình văn hoá, văn nghệ, tham quan dã
ngoại, cắm trại, các hoạt động xã hội nhằm giáo dục truyền thống cách mạng,
giáo dục lối sống, nếp sống văn hoá nâng cao ý thức bảo vệ, giữ gìn bản sắc văn
hoá dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá thế giới cho thanh niên,
giáo dục an ninh quốc phòng, giáo dục về dân số - sức khoẻ - môi trường, giáo
dục pháp luật. Lấy sinh hoạt văn hoá - văn nghệ làm “chất xúc tác” để thu hút
và giáo dục thanh niên; cần tranh thủ các nghệ nhân, những người hiểu văn hoá
truyền thống để khơi dựng lại những sinh hoạt văn hoá cộng đồng, phù hợp tâm
lý, đặc điểm của thanh niên, có tính cố kết cộng đồng và tính giáo dục cao.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ Đoàn,
Hội ở cơ sở có đủ khả năng tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền giáo dục.
Đoàn phải xây dựng được đội ngũ hạt nhân, làm nòng cốt, phát triển mạnh hoạt
động văn hoá - văn nghệ tại cơ sở, vừa phát huy tốt các di sản văn hoá truyền
thống tốt đẹp, vừa tiếp thu có chọn lọc những giá trị văn hoá mới. Đào tạo hạt
nhân văn nghệ, làm nòng cốt cho đội văn nghệ quần chúng; thành lập các đội văn
nghệ xung kích gắn với thông tin tuyên truyền qua đó tập hợp lực lượng thanh
niên, giúp họ xây dựng các hoạt động văn hoá ở cơ sở.
- Cần có nhiều hình thức tổ
chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể thao truyền thống, để đáp ứng nhu cầu
rất lớn hiện nay trong thanh niên các dân tộc là được giao lưu, học hỏi, kết
bạn, tạo mối quan hệ đoàn kết, gắn bó ngày càng vững chắc. Quan tâm mở rộng các
hình thức sinh hoạt câu lạc bộ (câu lạc bộ gia đình trẻ, câu lạc bộ thanh niên
giúp nhau làm giàu,…) để thu hút, tập hợp thanh niên, qua đó giúp thanh niên
vươn lên trong cuộc sống. Định hướng, giáo dục thanh niên về nhận thức chính
trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, bài trừ hủ tục lạc hậu, tăng cường tình đoàn
kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong thanh niên. Thường xuyên kiểm tra, đôn
đốc, động viên thanh niên tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hoá,
xã hội của địa phương, cơ sở. Đặt thanh niên xứng đáng với vai trò và vị trí
xung kích nhất là trên các lĩnh vực phát triển kinh tế, xây dựng đời sống văn
hoá.
Nâng
cao trách nhiệm của các tổ chức đoàn thể trong việc giáo dục thanh niên giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc
phải gắn chặt với việc phát huy dân chủ, bảo đảm công bằng xã hội và giữ vững
kỷ cương phép nước.
3.2.3. Nâng cao năng lực quản lý nhà nước:
Nâng
cao năng lực quản lý nhà nước là một trong những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng
của sự nghiệp xây dựng, phát triển văn hoá - nghệ thuật, tạo điều kiện thuận
lợi cho mọi người hưởng thụ, tham gia hoạt động sáng tạo văn hoá, ngăn chặn có
hiệu quả những sản phẩm văn hoá - nghệ thuật độc hại, các tệ nạn xã hội xâm
nhập vào đời sống xã hội, đặc biệt là đời sống thanh niên.
Trước hết, phải nhận thức đầy
đủ về một bối cảnh quốc tế mới sẽ có nhiều biến động. Đó là quá trình phát
triển nhanh, mạnh và toàn cầu hoá trên mọi lĩnh vực. Một chân trời văn hoá tạo
cho các cộng đồng xích lại gần nhau đang mở ra trước các dân tộc. Mặt khác là
nguy cơ san bằng và đồng nhất hoá các hệ thống giá trị và tiêu chuẩn, đe doạ là
suy kiệt khả năng sáng tạo của các nền văn hoá. Kinh tế thị trường trong xu thế
toàn cầu hoá có xu hướng biến di sản văn hoá (vật thể và phi vật thể) thành
hàng hoá, kể cả bản thân con người. Trong bối cảnh đó, cần phải tỉnh táo nhận
thức về mình. Không ai có thể phải nhận được sức mạnh và giá trị trường tồn của
bản sắc văn hoá Việt Nam nhưng nếu cứ tiếp diễn tình trạng một thời văn hoá
nước ngoài ồ ạt xâm nhập bằng mọi con đường, chiếm lĩnh thị hiếu của thanh niên thì nguy cơ bị
đồng hoá văn hoá trong tương lai là điều có thể xảy ra. Nói như vậy không có
nghĩa là “đóng cửa” mà cần kết hợp chặt chẽ việc tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân
loại với đấu tranh chống lại sự xâm nhập của văn hoá độc hại. Đó là mối quan hệ
giữa giữ gìn bản sắc với tiếp thu tinh hoa, giữa truyền thống, tiếp biến và đổi
mới.
Mặt khác, nếu cứ để tình trạng
nghệ thuật bị thương mại hoá sẽ tạo ra một kiểu văn hoá thực dụng, Sự xuất hiện
tràn lan các tác phẩm nghệ thuật rẻ tiền, chạy theo thị hiếu tầm thường, hoặc
lai căng, xa lạ với đời sống hiện nay của nhân dân, nhất là với lớp trẻ, chắc
chắn sẽ làm mất dần ý thức phát triển văn hoá dân tộc, và sẽ không còn lấy gì
làm cơ sở để giao lưu văn hoá với các quốc gia khác nhau. Cho nên quản lý tốt
văn hoá là góp phần đắc lực tạo được môi trường văn hoá lành mạnh trong thanh
niên, hướng họ đi tới cái chân- thiện- mỹ, hướng đến các giá trị truyền thống
của văn hoá dân tộc.
3.2.4. Tăng cường
các thiết chế văn hóa:
Phải có những thiết chế văn
hoá, phương tiện phục vụ để thanh niên có nơi sinh hoạt, giao lưu, trao đổi văn
hoá lành mạnh. Trong thời gian tới cần xây dựng các khu vui chơi, nhà văn hoá
thanh niên tại 27/27 xã, thị trấn trên toàn huyện. Cần đa dạng hoá các hình
thức sinh hoạt văn hoá cho thanh niên, tiếp tục khuyến khích phát triển các
hình thức sinh hoạt như tổ chức các cuộc thi: thi tuổi trẻ tài năng sáng tạo;
thi thanh niên thanh lịch; Hội thi Hoạ mi vàng; Hội thi Tiếng hát học sinh; Hội
thi đôi nhảy, nhóm nhảy đẹp; thi Đội Tuyên truyền các ca khúc cách mạng (TCM);
Ngày hội văn hoá- thể thao toàn huyện,… Tiếp tục xây dựng các thiết chế văn hoá
dành cho thanh niên như Công viên văn hoá thanh niên, Nhà văn hóa thanh thiếu
nhi, Câu lạc bộ văn hoá thanh niên, sân bãi thể thao; xây dựng mô hình các Câu
lạc bộ gia đình trẻ, câu lạc bộ học tập, phòng cưới văn hóa thanh niên,…
3.2.5. Đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết
xây dựng đời sống văn hóa”:
Đẩy
mạnh cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” với các nội
dung phương pháp phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, trình độ dân trí,
phong tục tập quán của từng vùng, từng địa phương, từng khu dân cư, khai thác
và sử dụng đúng đắn các giá trị văn hoá truyền thống từng địa phương; tích cực
đưa vào trong đời sống sinh hoạt của thanh niên các tác phẩm văn hoá nghệ thuật
cách mạng; đặc biệt quan tâm có những tác phẩm phù hợp với tâm lý, tình cảm,
đặc điểm văn hoá truyền thống của các dân tộc. Đối với các địa phương có những
nghệ thuật dân gian cần khuyến khích, động viên, hướng dẫn để thanh niên tiếp
nhận và phát huy, góp phần xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh.
Hiện
nay các sản phẩm văn hoá tinh thần, các sân chơi, phương tiện vui chơi giải trí
chưa phù hợp với nhu cầu và tâm lý của thanh niên. Sự buông lỏng quản lý thị
trường văn hoá đã dẫn đến tình trạng lưu hành, trôi nổi các ấn phẩm văn hoá xấu
độc dễ tác động xấu đến thanh niên. Một số thế lực thù địch lợi dụng các phương
tiện thông tin như mạng Intenet, sách báo,… không chỉ tuyên truyền các nội dung
phản văn hoá mà còn xen kẽ các luận điệu có mục đích chính trị xấu để lôi kéo
thanh niên. Điều đó đặt ra yêu cầu cần phải có sự phối hợp giữa ngành văn hoá
thông tin và các cơ quan hữu quan để có biện pháp hữu hiệu quản lý chặt chẽ các
luồng thong tin từ bên ngoài, hướng dẫn cho thanh niên có ý thức phê phán, chọn
lọc trong tiếp nhận văn hoá.
3.2.6.
Lựa chọn phương thức giao lưu thích hợp:
Với
quan hệ quốc tế đa phương hoá, đa dạng hoá của nước ta hiện nay, việc giao lưu
văn hoá của ta không còn đóng khung trong một hệ ý thức thuần tuý như trước
đây, mà là sự giao lưu với nhiều hệ tư tưởng, nhiều chế độ chính trị, nhiều
trào lưu, khuynh hướng nghệ thuật khác nhau của thế giới. Do vậy, tỉnh táo
trong giao lưu nghệ thuật, phải tạo ra được những phương thức giao lưu thích
hợp để nhận rõ cái gì cần tiếp thu từ bên ngoài, cái gì cần phải chọn lọc, là
điều rất quan trọng, đối với cả người quản lý văn hoá, với cả người nghệ sỹ và
với chính bản thân thanh niên.
Muốn
duy trì và giáo dục văn hoá truyền thống cho thế hệ trẻ, chúng ta phải tạo ra
được một không gian văn hoá truyền thống cho cuộc sống của họ. Một môi trường
văn hoá mang đậm dấu ấn của bản sắc dân tộc có ý nghĩa quan trọng, có vai trò
to lớn đối với việc gìn giữ và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống. Chúng
ta không thể đòi hỏi thế hệ trẻ phải có thái độ đúng đắn đối với văn hoá truyền
thống trong khi chúng ta không xây dựng được một không gian văn hoá truyền
thống này trong chính gia đình và cộng đồng ở xã hội hiện đại.
3.2.7. Hình thức giáo dục thanh niên giữ gìn và
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh hội nhập:
Cần
có sự kết hợp nhiều hình thức giáo dục trong quá trình giáo dục thanh niên giữ
gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, thông qua công việc của từng đối tượng
cụ thể mà chọn những nội dung thích hợp, có cơ chế gắn kết giữa tình cảm, trách
nhiệm và lợi ích giữa cá nhân tập thể và xã hội, một số hình thức giáo dục như:
Giáo dục gia đình: cần được chú trong trong
giai đoạn hiện nay vì gia đình là tế bào của xã hội, là tổ ấm của mỗi người.
Các bậc phụ huynh có vai trò quyết định trong quá trình hình thành nhân cách
của trẻ. Đây còn là nơi lưu truyền các giá trị văn hóa dân tộc từ thế hệ nay
sang thế hệ khác.
Giáo dục nhà trường: cần được
củng cố theo hướng dạy chữ hiệu quả hơn, dạy người tốt hơn, dạy nghề thiết thực
hơn.
Tuyên truyền, giáo dục thông
qua dư luận xã hội: là một biện pháp quan trọng để định hướng giá trị cho lớp
trẻ, để điều chỉnh các hành vi lệch chuẩn về đạo đức, lối sống, nếp sống.
Tuyên truyền, giáo dục trên các
phương tiện thông tin đại chúng: cần góp phần đắc lực hơn vào việc định hướng
giá trị văn hoá mang bản sắc của dân tộc cho thế hệ trẻ.
Đổi mới, đa dạng hoá hoạt động tuyên truyền:
Kiện toàn đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên và tổ chức hoạt động có hiệu
quả. Có cơ chế trang bị báo Đảng, báo Đoàn cho các Đoàn cơ sở và chi đoàn, xây
dựng các chương trình phát thanh, truyền hình cấp huyện. Đặc biệt là chú trọng
công tác tuyên truyền thông qua thông tin thanh niên các cấp của Đoàn.
Phải bằng các hoạt động thực
tiễn, tấm gương cách mạng mà giáo dục lý tưởng, đạo đức để từ đó tuổi trẻ hiểu
được những giá trị đích thực, không nên tổ chức những phong trào mang tính hình
thức, phô trương, lãng phí, nội dung nghèo nàn, kém chất lượng, hiệu quả thấp.
Bên cạnh đó tạo ra nhiều diễn đàn chính trị- xã hội để thanh niên bày tỏ quan
điểm, nguyện vọng, lắng nghe ý kiến lớp người đi trước và giúp nhau trong nhận
thức và hành động.
3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ:
Từ nhận thức về bối cảnh mới
của sự nghiệp bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và từ những quan sát
về thực trạng thanh niên hiện nay đối với sự nghiệp này, xin nêu một số kiến
nghị cụ thể nhằm không ngừng nâng cao vị trí, vai trò hiệu quả thực tế của
thanh niên trong sự nghiệp giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong
tình hình mới:
3.3.1.
Đối với Đảng và Nhà nước:
- Cần tiến hành tổng điều tra
về nhu cầu, thị hiếu hiện nay của thanh niên đối với các lĩnh vực văn hoá -
nghệ thuật, đặc biệt là đối với nghệ thuật dân tộc truyền thống.
Cuộc tổng điều tra này giao cho
Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh làm nòng cốt, dưới sự chỉ đạo của Ban Tư tưởng
- Văn hoá Trung ương, với sự tham gia của các cơ quan văn hoá, khoa học và tổ
chức Đoàn thanh niên các cấp. Kết quả của cuộc tổng điều tra sẽ giúp chúng ta
đánh giá chuẩn xác hơn nhu cầu, thị hiếu của thanh niên hiện nay với văn hoá
nói chung, với nghệ thuật dân tộc truyền thống nói riêng, để từ đó định hướng
cá hoạt động nhằm nâng cao vị thế của thanh niên với sự nghiệp xây dựng và phát
triển nền văn hoá Việt nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
- Cần phải tăng cường vai trò
của các cơ quan chính quyền trong việc quản lý các quá trình, hiện tượng và các
quan hệ xã hội, trong đó việc xây dựng các quy chuẩn mới dựa trên nền tảng
truyền thống phải được quan tâm chú ý đặc biệt. Cần phải xây dựng những quy tắc
mới trong việc phát triển văn hoá lành mạnh, vừa truyền thống vừa hiện đại
trong việc tổ chức lễ hội truyền thống, sinh hoạt, vui chơi trong các ngày lễ,
cưới xin, ma chay,…
- Cần có cơ chế, chính sách,
khuyến khích và tạo điều kiện cho thanh niên phát huy vai trò tích cực của mình
đối với sự nghiệp bảo vệ và phát huy văn hoá truyền thống dân tộc. Cụ thể là:
+ Chính sách ưu tiên đầu tư
kinh phí, cơ sở vật chất cho các đoàn nghệ thuật dân tộc truyền thống.
+ Chính sách ưu tiên, hỗ trợ
kinh phí, vật chất cho các tổ, đội văn nghệ dân tộc truyền thống của các tổ
chức Đoàn thanh niên (như đội tuyên tuyền các ca khúc cách mạng, cá đội tuyên
truyền viên).
+ Chính sách ưu tiên cho các cơ
sở đào tạo về văn hoá - nghệ thuật trưyền thống, bao gồm cả ưu tiên cho cơ sở
đào tạo và ưu tiên cho người học.
+ Chính sách hỗ trợ khen thưởng
thoả đáng cho thanh niên hoạt động trên lĩnh vực văn hoá - nghệ thuật dân tộc
ruyền thống, trong đó cần thể hiện rõ sự ưu tiên xét tặng các danh hiệu nghệ
sĩ, danh hiệu thi đua cho các nghệ sĩ trẻ hoạt động trên lĩnh vực này.
- Xây dựng, bồi dưỡng để hình
thành đội ngũ cán bộ văn hoá là hạt nhân văn hoá văn nghệ cho cơ sở, nhất là
trong tổ chức Đoàn và Hội LHTN. Chỉ có kiện toàn đội ngũ cán bộ và hạt nhân văn
hoá văn nghệ thì hệ thống thiết chế văn hoá mới phát huy được hiệu quả của
mình.
- Để có cơ sở cho toàn bộ sự
nghiệp giáo dục, bồi dưỡng văn hoá cho thanh niên, Trung ương cần xây dựng cho
được chuẩn mực giá trị của thanh niên trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá -
hiện đại hoá đất nước. Đặc biệt chú ý đến chuẩn mực giá trị tư tưởng, chính
trị, cá chuẩn mực giá trị thẩm mỹ văn hoá truyền thống. Từ hệ thống chuẩn mực
giá trị, các ngành, các đoàn thể hình
thành chương trình hành động tuyên
truyền, giáo dục, bồi dưỡng các chuẩn mực giá trị này cho thanh niên. Trong
việc tuyên truyền, giáo dục các chuẩn mực giá trị của thanh niên trong thời kỳ
mới cần sử dụng có hiệu quả các kênh: hệ thống trường học, hệ thống văn hoá văn
nghệ, hệ thống thông tin đại chúng.
3.3.2.
Đối với Đoàn thanh niên:
- Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí
Minh cần phát động trong thanh niên phong trào sưu tầm, học hỏi (như cuộc vận
động “Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại”, “Thắp lửa
truyền thống mãi mãi tuổi 20”…) và tổ chức các hoạt động biểu diễn văn hoá nghệ
thuật truyền thống, coi đây là một hoạt động, một nội dung thi đua của các đoàn
viên và các tổ chức Đoàn.
- Đoàn
thanh niên và ngành văn hoá thông tin các cấp cần định kỳ tổ chức các cuộc liên
hoan (hoặc hội thi, hội diễn) văn hoá - nghệ thuật dân tộc truyền thống với đối
tượng tham gia thi, thưởng thức là thanh niên. Chính những cuộc liên hoan này là
một trong những phương thức hiệu quả nhất giúp thanh niên thực sự vừa là chủ
nhân giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, vừa là người trực tiếp hưởng
thụ tinh hoa của văn hoá dân tộc. qua đó bồi đắp tâm hồn, đạo đức, lối sống của
mình ngày càng thêm phú.
- Cần tăng cường tổ chức các hoạt động tuyên
truyền, giáo dục thanh niên tích cực tham gia giữ gìn và phát huy bản sắc văn
hoá dân tộc thông qua việc xã hội hoá công tác thanh niên. Tức là làm cho quá
trình giáo dục được gắn kết hài hoà giữa gia đình - nhà trường - xã hội.
- Phải quan tâm hơn nữa tới
việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Đoàn để họ thực sự là hạt nhân, nòng
cốt, là tấm gương sáng vận động, giáo dục đoàn viên thanh niên rèn luyện noi theo.
KẾT
LUẬN
Bản sắc văn hoá Việt Nam là tố chất được hợp luyện cùng chiều với
lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam . Bản sắc đó không phải là một
hằng số, là những giá trị bất biến, mà có những giá trị mới được hình thành,
bồi tụ trong quá trình hội nhập, tiếp biến giữa các nền văn hoá.
Giữ gìn bản sắc văn hoá của dân
tộc là một ý thức chính trị, xây dựng tâm
lý cộng đồng với nội dung cao cả là tinh thần độc lập tự cường, tự chủ
lại là biểu hiện cao nhất và trước hết của văn hoá. Phải thường xuyên bồi bổ
cho lịch sử - văn hoá với ý nghĩa cội rễ của dân tộc cho thanh niên, để cho cốt
cách văn hoá dân tộc thấm sâu vào tâm lý thanh niên. Đồng thời phải kết hợp một
cách chặt chẽ, khoa học, tinh tế, có lý, có tình giữa “pháp trị” - mà đặc biệt
là vai trò quản lý của nhà nước đối với các lĩnh vực kinh tế - xã hội với “đức
trị” mà chủ yếu là giáo dục tính nhân văn, đạo đức. ở một ý nghĩa nào đó, là
kết hợp giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là nhiệm vụ chủ yếu và lâu dài.
Phải nhận thức con người nói chung, thanh niên nói riêng là điểm xuất phát cũng là mục tiêu của sự ptáh triển.
Phải đào tạo thanh niên cả về nhân cách và trí tuệ. Trong nhân cách có trí tuệ.
Trí tuệ càng cao, nhân cách càng phải lớn. Như nghị quyết Đại hội Đảng XI của
Đảng đã nêu rõ: “Văn hoá trở thành nhân tố thúc đẩy con người tự hoàn thiện
nhân cách, kế thừa truyền thống cách mạng của dân tộc”. Chỉ có nhận thức như
vậy mới tạo nên một Việt Nam ổn định, phát triển bền vững nói chung, một Thanh
Hóa, một Hậu Lộc nói riêng trong quá trình giao lưu, hội nhập kinh tế quốc tế
hiện nay. Vì suy đến cùng thì sự phát triển của xã hội chính là sự phát triển
về văn hoá.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
C.Mác -
Ph.Ăngghen, Bàn về thanh niên, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1982.
2.
V.I.Lênin, Bàn về thanh niên,
Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1982.
3.
Hồ Chí
Minh, Về giáo dục thanh niên, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1980.
4.
Di chúc
của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004.
5.
Đảng Cộng
sản Việt Nam ,
Văn kiện Hội nghị lần thứ tư (khóa VII), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1993.
6.
Đảng Cộng
sản Việt Nam ,
Văn kiện Đại hội lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.
7.
Đảng cộng
sản Việt Nam ,
Nghị quyết số 25 về tăng cường sự lãnh
đạo của Đảng về công tác thanh niên thời kỳ đẩy manh CNH, HĐH, Hà Nội,
2008.
8.
Đảng cộng
sản Việt Nam, Nghị quyết trung ương 5 (
khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Hà Nội, 1998
9.
PGS.TS
Phạm Thành Dung -TS Nguyễn Thị Thúy Hà - TS Phạm Thanh Hà (Đồng chủ biên), một
số vấn đề quan hệ quốc tế và đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam,
Nxb chính trị - hành chính, Hà Nội, 2013.
10.
TS. Phạm Đình Nghiệp, Phương
pháp công tác thanh niên (tài liệu lưu hành nội bộ), Học viện thanh thiếu
niên Việt Nam ,
Hà Nội, 2004.
11.
TS. Phạm Đình Nghiệp, Nghiệp
vụ công tác Đoàn - Hội - Đội (tài liệu lưu hành nội bộ), Học viện Thanh
thiếu niên Việt Nam ,
Hà Nội, 2004.
12.
Ban Tư
tưởng văn hoá Trung ương, Văn hoá với
thanh niên, thanh niên với văn hoá- một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Hà
Nội, 2002.
13.
Ban Chấp hành Trung ương Đoàn
TNCS Hồ Chí Minh, Báo cáo khoa học đề tài "Tình hình tư tưởng thanh
niên và công tác giáo dục của Đoàn giai đoạn hiện nay", Hà Nội, 2008.
14.
Ban Chấp hành Trung ương Đoàn
TNCS Hồ Chí Minh, Báo cáo khoa học đề tài "Tình hình tư tưởng thanh
niên và công tác giáo dục của Đoàn giai đoạn hiện nay", Hà Nội, 2002.
15.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thanh
Hóa, Chỉ thị số 19 về Đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động Đoàn và phong
trào thanh niên trong thời kỳ mới, Thanh Hóa, 2009.
16.
Ban Thường
vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa, Chỉ thị số 18 về Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy
Đảng đối với công tác thanh niên trong tình hình mới, Thanh Hóa, 2014.
17.
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh
Hóa, Nghị quyết 02 NQ/TU của Tỉnh ủy về cải thiện môi trường đầu tư kinh
doanh trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2012-2015, Thanh Hóa, 2011.
18.
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh
Hóa, Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, Thanh Hóa,
2010.
19.
Ban Chấp
hành Đảng bộ huyện Hậu Lộc, Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện Nghị quyết 25 của
BCH TƯ Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời
kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, Hậu Lộc, 2011.
20.
Ban Chấp
hành Đảng bộ huyện Hậu Lộc, Văn kiện Đại hội Đảng bộ huyện khóa XXV, nhiệm
kỳ 2010 -2015, Hậu Lộc, 2010.
21.
Ban Chấp
hành Đảng bộ huyện Hậu Lộc, Báo cáo sơ kết 15 năm thực hiện Nghị quyết TƯ 5
( Khóa VIII) của BCH TƯ Đảng về xây
dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Hậu Lộc, 2013.
22.
Ủy ban
nhân dân Huyện Hậu Lộc, Báo cáo tình hình
kinh tế xã hội năm 2007, Hậu Lộc , 2007.
23.
Ủy ban
nhân dân Huyện Hậu Lộc, Báo cáo tình hình
kinh tế xã hội năm 2013, Hậu Lộc , 2013.
24.
Ủy ban
nhân dân Huyện Hậu Lộc, Báo cáo tình hình
kinh tế xã hội Quý 1, năm 2014, Hậu Lộc , 2014.
25.
Ủy ban nhân dân huyện Hậu Lộc, Báo
cáo tình hình tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài toàn huyện giai đoạn 2005-2010,
Hậu Lộc, 2010.
26.
Ban chấp
hành huyện đoàn Hậu Lộc, Văn kiện Đại hội
Đoàn toàn huyện khóa XXII, nhiệm kỳ 2012 - 2017, Hậu Lộc, 2012.
27.
Ban Thường
vụ Huyện Đoàn Hậu Lộc, Báo cáo sơ kết cuộc vận động "Đoàn viên thanh
niên phấn đấu trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam ", Hậu Lộc, 2012.
28.
Ban Thường
vụ Huyện Đoàn Hậu Lộc, Báo cáo sơ kết cuộc vận động“ Tuổi trẻ Hậu Lộc học
tập và làm theo lời Bác”, Hậu Lộc,
2013
29.
Ban Thường
vụ Huyện đoàn Hậu Lộc, Báo cáo sơ kết cuộc vận động“ người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam ”, Hậu Lộc, 2013.
0 nhận xét:
Speak up your mind
Tell us what you're thinking... !