Nhiệt liệt Chào mừng Đại hội toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam!

Giáo dục thanh niên giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trên địa bàn huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa trong quá trình hội nhập hiện nay”

                                ( Luận văn của đồng chí Cao Công Thức - Bí thư Huyện đoàn)

    MỞ ĐẦU

    1. Tính cấp thiết của luận văn:
    Ở bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, thanh niên bao giờ cũng là lực lượng nòng cốt, là đội ngũ tiên phong của toàn dân tộc trong quá trình dựng nước và giữ nước, "nước nhà thịnh hay suy phần lớn là do thanh niên". Thanh niên là đối tượng có nhu cầu rất cao về mọi lĩnh vực, đặc biệt đối với văn hóa. Thế hệ thanh niên ngày nay có điều kiện thuận lợi cho sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hoá, thoả mãn nhu cầu về nghệ thuật, về cái đẹp hơn rất nhiều so với các thế hệ cha anh trong những năm tháng còn chiến tranh hoặc bước vào xây dung hoà bình, kiến thiết đất nước ở giai đoạn trước.
     Thanh niên huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa hiện có khoảng 50.000 người, chiếm 29% dân số và 45% lao động xã hội, trong đó có hơn 34.000 thanh niên được tập hợp trong tổ chức Đoàn - Hội ( trong đó có gần 13.000 là đoàn viên). Đây là lực lượng hùng hậu, luôn đi đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương, Tổ quốc. Bên cạnh rất nhiều mặt mạnh tích cực, một số thanh niên hiện nay nói chung đang đang có biểu hiện những vấn đề đáng lo ngại về tư tưởng, đạo đức, lối sống, đặc biệt về vấn đề giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
    Việt Nam đang chủ động đẩy mạnh quá trình mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế nhằm tranh thủ thời cơ, ngăn chặn và vượt qua nguy cơ thách thức do toàn cầu hóa đem lại. Là một huyện có bề dày lịch sử và truyền thống văn hóa, sớm phát triển nền văn minh lúa nước, chăn nuôi và đánh bắt cá; không những thế là vùng đất có tinh thần yêu nước nồng nàn, là cái nôi của cách mạng Việt Nam; Là huyện vùng Biển có đa dạng về các loại hình kinh tế, trong đó kinh tế Biển với những nét văn hóa đặc trưng đang góp phần thúc đẩy sự phát triển của địa phương, góp phần cùng toàn tỉnh, cùng đất nước chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Chính những yếu tố đó đã và đang tác động ngày càng sâu rộng, ảnh hưởng lớn vào mọi mặt của đời sống xã hội, đặc biệt là vào thế hệ trẻ nói chung và đời sống văn hoá của thế hệ trẻ nói riêng.
    Bản sắc văn hoá dân tộc với thanh niên và thanh niên với vấn đề giữ gìn, phát huy bản sắc dân tộc là một quan hệ đặc thù, cần được quan tâm ở mọi quốc gia và ở mọi thời kỳ lịch sử. Mối quan hệ này càng trở nên phong phú, đa dạng và phức tạp trong thời kỳ mới. Vì vậy công tác giáo dục thanh niên giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong tình hình hiện nay là hết sức quan trọng và cần thiết, đòi hỏi các cấp, các ngành và toàn xã hội phải có nhận thức đúng về vai trò, tầm quan trọng của công tác giáo dục thanh niên giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc; tăng cường đổi mới và nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục thanh niên trong quá trình hội nhập quốc tế để họ tham gia các hoạt động quốc tế một cách lành mạnh, không bị "hòa tan", để những giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc tiếp tục được gìn giữ và phát huy trong điều kiện mới. 
    Văn hoá khắc hoạ bản sắc và phương thức tồn tại của một cộng đồng, khiến cho cộng đồng ấy có một đặc thù riêng. Như vậy, văn hoá mang bản sắc dân tộc. Và yếu tố dân tộc là yếu tố quyết định nhất của một nền văn hoá. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, dân tộc Việt Nam đã rèn đúc, tôi luyện cho mình nhiều phẩm chất tốt đẹp. Đó là năng lực chế ngự thiên nhiên, tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo trong chống giặc ngoại xâm; sự hình thành một hệ giá trị cốt lõi của văn hoá dân tộc với tinh thần yêu nước, ý chí độc lập tự cường, tinh thần đoàn kết, ý thức cố kết cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, sự khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý, lấy nhân nghĩa làm gốc; trách nhiệm của cá nhân đối với cộng đồng nhà - làng - nước; trọng dân, đề cao dân, lấy dân làm gốc; hoà hợp để hoà đồng, cần cù, khiêm tốn, giản dị trong lối sống,… Tất cả tạo thành nhân cách, cốt cách của dân tộc Việt Nam. Cái đó còn gọi là bản sắc của dân tộc Việt Nam. Mỗi người Việt Nam đều cần có “cốt cách” và “bản sắc” ấy dù cho ở thời kỳ lịch sử nào và trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể nào.
    Xuất phát từ quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác- Lênin và của Chủ tịch Hồ Chí Minh về con người và sự phát triển con người, với tư cách vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển và tiến bộ xã hội. Đảng ta luôn luôn đặt lên hàng đầu nhiệm vụ chăm lo sự nghiệp “trồng người”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”. Trong sự nghiệp đó, văn hoá đóng vai trò hết sức to lớn bởi, nói tới văn hóa là nói tới con người. Những gì không thuộc về con người không phải là văn hóa. Dù hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, văn hoá bao giờ cũng luôn hướng tới mục đích tối cao vì sự phát triển con người, dẫn dắt con người tự hoàn thiện, vươn tới những giá trị chân- thiện- mỹ. Thực tế đã chứng minh nói đến phát triển nguồn lực con người là phải suy nghĩ đến ngay bộ phận chủ lực đó là lực lượng thanh niên, là thế hệ trẻ. Tổng Bí thư Trung ương Đảng Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu tại Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ X nêu rõ: “ Đối với thế hệ trẻ, Đảng ta xác định, cần làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, truyền thống, lý tưởng, đạo đức và lối sống, tạo điều kiện học tập, lao động, giải trí, phát triển toàn diện thể lực, trí tuệ cho thế hệ trẻ. Khuyến khích, cổ vũ thanh niên nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão lớn, xung kích, sáng tạo, làm chủ khoa học, công nghệ hiện đại. Hình thành lớp thanh niên ưu tú trên mọi lĩnh vực, kế tục trung thành, xuất sắc sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc”. Trong quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng ta luôn đề cao vai trò, vị trí của công tác thanh niên. Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 25/7/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã nêu Công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc. Bước vào thời kỳ mới, thanh niên càng có vai trò quan trọng hơn bao giờ hết, là nguồn lực chủ yếu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, là lớp người có trách nhiệm giữ gìn và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc. Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) cũng đã nhấn mạnh quan tâm, giáo dục lý tưởng, đạo đức lối sống và văn hoá cho thế hệ trẻ.
    Văn hóa được biểu hiện cơ bản  qua lối sống, nếp sống. Lối sống, nếp sống của thanh niên hiện nay hình thành trên cơ sở tâm lý, nhu cầu và lẽ sống của thế hệ trẻ, được hình thành phát triển từ môi trường xã hội của thời kỳ đổi mới, cũng giống như các thế hệ cha anh, nhìn chung, thanh niên hiện nay đang hướng tới các giá trị cơ bản vẫn luôn được coi trọng đó là: Độc lập, tự do và hạnh phúc, ấm no cho gia đình và xã hội; những giá trị vĩnh hằng đó đáp ứng nhu cầu lý tưởng sống của thanh niên và yêu cầu phát triển của xã hội mọi thời đại. Chính vì vậy nâng cao trình độ học vấn, tri thức nghề nghiệp, bồi dưỡng lý tưởng, đạo đức, nhân cách tốt đẹp của thanh niên, đặc biệt trong quá trình hội nhập hiện nay là một vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng. Thực tế hiện nay một bộ phận thanh niên trong cả nước nói chung, tỉnh Thanh Hóa và huyện Hậu Lộc nói riêng đang có những biểu hiện về hành vi, thái độ cực đoan, nhiều mâu thuẫn trong suy nghĩ và hành vi cần được khắc phục. Vì vậy, cần phải có sự giáo dục định hướng giúp cho thanh niên sớm nhận thức đúng, có thái độ đấu tranh tích cực để chống lại mọi biểu hiện vị kỷ, những cách sống toan tính cá nhân, tự do buông thả, thiếu kỷ cương, trách nhiệm, coi thường pháp luật đang đan xen trong lối sống của thanh niên, đôi khi tạo ra sự xung đột với lối sống tốt đẹp bản sắc văn hóa dân tộc. Một lối sống “tiêu thụ” và “nhất thời - sống gấp” đang hình thành. Nguyên nhân cơ bản có lẽ do ảnh hưởng của mặt trái nền kinh tế thị trường; sự du nhập của các yếu tố văn hóa ngoại lai mà một bộ phận thanh niên không biết tiếp thu một cách có chọn lọc, sự non kém về bản lĩnh chính trị của một bộ phận thanh niên, sự quan tâm không đầy đủ của nhiều gia đình, sự vô cảm của xã hội,… Để thực hiện Nghị quyết của Đảng nhằm xây dựng đất nước giàu đẹp, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Nhiệm vụ to lớn này không chỉ thuộc về các ngành chức năng mà còn đặt lên vai cả các tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.
    Trước đây, đã có nhiều công trình  khoa học nghiên cứu về vấn đề này. Tiêu biểu nhất là tác phẩm "Xây dựng nếp sống văn hóa trong thanh thiếu nhi" của tập thể tác giả (NxbTn, Hà Nội, 1997); Tổng quan tình hình thanh niên công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi của BCH TW Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2002). Nhiều bài viết của các nhà khoa học thuộc Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam, Viện Nghiên cứu Thanh niên trên các tạp chí chuyên ngành. Đặc biệt là Chỉ thị số 19 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa, chương trình hành động số 53 của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Hậu lộc về “ Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Đoàn và phong trào thanh niên trong tình hình mới” đã ít nhiều đề cập tới những tác động của quá trình hội nhập quốc tế tới thanh niên. Song các nghiên cứu chưa đánh giá rõ đầy đủ thực trạng và chưa phù hợp với tình hình trên địa bàn huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Là một người làm công tác thanh niên,... có nhiều suy nghĩ, trăn trở về vấn đề này và quyết định chọn đề tài: “Giáo dục thanh niên giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trên địa bàn huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa  trong quá trình hội nhập hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp Cao cấp lý luận chính trị - hành chính của mình.
    2. Mục đích nghiên cứu:
    Trên cơ sở làm rõ thực trạng của công tác giáo dục thanh niên giữ gìn vấn đề giữ gìn phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay ở huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa, phân tích những tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trên địa bàn huyện tới đời sống văn hoá của thanh niên và công tác giáo dục đối với họ, từ đó đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác giáo dục thanh niên giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trên địa bàn toàn huyện.
    3. Phạm vi đối tượng nghiên cứu:
    * Phạm vi nghiên cứu:
    - Không gian: Trên địa bàn huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
    - Thời gian: Từ năm  2007 đến nay.
    * Đối tượng nghiên cứu:
    - Một số quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục thanh niên.
    - Công tác giáo dục thanh niên giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc ở huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
    * Đối tượng điều tra:
    Tổ chức Đoàn, đoàn viên, thanh niên, cán bộ Đoàn, Hội, cán bộ Đảng, chính quyền và các Ban ngành trên địa bàn huyện có liên quan đến quá trình hội nhập, đến công tác giáo dục thanh niên giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc ở huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
    4. Phương pháp nghiên cứu:
    Phương pháp luận: Phương pháp chru yếu được sử dụng trong luận văn là phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên, đặc biệt vấn đề văn hóa truyền thống và hiện đại.
    Trên cơ sở đó, luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể:
    - Phương pháp điều tra xã hội học, quan sát, phỏng vấn, ghi chép.
    - Phương pháp đọc và nghiên cứu tài liệu.
    - Phân tích, tổng hợp, so sánh, xử lý các số liệu đã có.
    5. Cấu trúc của luận văn:
    Ngoài phần mở đầu, kết luận luận văn được cấu trúc bao gồm 3 chương:
    Chương 1: Cơ sở lý luận chung
    Chương 2: Thực trạng công tác giáo dục thanh niên giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa từ năm 2007 đến nay.
    Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục thanh niên giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa  trong thời gian tới.
                                                       


    CHƯƠNG 1

    CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG

    1.1. QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VỀ THANH NIÊN VÀ CÔNG TÁC GIÁO DỤC THANH NIÊN

    1.1.1. Quan niệm về thanh niên và công tác giáo dục thanh niên

    * Quan niệm về thanh niên.
    Thanh Niên: ở Việt Nam, khái niệm “Thanh niên” được hiểu theo Luật Thanh niên là từ 16 đến 30 tuổi.
     Đoàn TNCS Hồ Chí Minh: là tổ chức chính trị- xã hội của thanh niên Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện. Đoàn bao gồm những thanh niên tiên tiến, tự nguyện phấn đấu vì sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, công bằng và văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
    * Quan niệm về giáo dục thanh niên.
    - Giáo dục là một hiện tượng xã hội, là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, ảnh hưởng tự giác chủ động đến con người đưa đến sự hình thành và phát triển tâm lý, ý thức, nhân cách. Giáo dục được hiểu theo nhiều nghĩa:
    + Theo nghĩa rộng giáo dục là toàn bộ tác động của các chủ thể xã hội (gia đình, nhà trường và xã hội) đến con người.
    + Theo nghĩa hẹp, giáo dục được hiểu là quá trình tác động đến tư tưởng, đạo đức, hành vi của con người, các phương diện hợp thành của nó là: giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, giáo dục truyền thống, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục pháp luật, giáo dục lao động, kinh tế, giáo dục về giới…
    1.1.2. Quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về thanh niên và giáo dục thanh niên:
    * Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về thanh niên và giáo dục thanh niên:
    Trong khi nghiên cứu về thanh niên Mác và Ăng ghen nhận thấy “Thanh niên là cội nguồn, sức sống của dân tộc”. Nguyên lý giáo dục thanh niên phải là quan điểm của giai cấp công nhân- giai cấp lãnh đạo cách mạng, mang trong mình bản chất cách mạng và khoa học.
    Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, V.I.Lênin cũng nhận thấy rằng thanh niên là một lực lượng đông đảo, có vai trò to lớn trong sự phát triển của xã hội. Thanh niên không chỉ là một lực lượng quan trọng trong hiện tại, mà họ là ngày mai của xã hội. Vì thế, chăm sóc đến sự phát triển của thanh niên chính là sự chăm sóc của xã hội đối với bản thân xã hội. V.I.Lênin cho rằng, Đảng Cộng sản và Đoàn Thanh niên cộng sản muốn giáo dục thanh niên, trước hết phải hiểu thanh niên, biết được những tính chất ưu việt của thanh niên và biết được những nhược điểm của lứa tuổi thanh niên để có phương thức giáo dục phù hợp.
    * Tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên và giáo dục thanh niên:
    Kế thừa những di sản tư tưởng quý báu của chủ nghĩa Mác- Lênin về thanh niên và giáo dục, là người trực tiếp sáng lập, lãnh đạo, theo dõi Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và phong trào thanh niên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo các luận điểm Mác xít về vai trò, vị trí của thanh niên trong xã hội, về giáo dục thế hệ trẻ trong điều kiện lịch sử cụ thể của cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên một luận điểm nổi tiếng gắn liền với vấn đề dân tộc đó là: Muốn hồi sinh dân tộc, trước hết phải hồi sinh thanh niên và người kêu gọi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất nếu đám thanh niên sớm già nua của Người không sớm hồi sinh. Hồi sinh thanh niên là điều kiện tiên quyết để hồi sinh dân tộc. Vì vậy trước lúc đi xa trong Di chúc của mình Người tha thiết căn dặn Đảng phải: Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng, rất cần thiết. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ trở thành những người xây dựng CNXH vừa “Hồng”, vừa “Chuyên”.
    Theo Hồ Chủ tịch, sự nghiệp giáo dục đào tạo thế hệ trẻ không chỉ là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, mà còn là trách nhiệm to lớn, lâu dài của nhà trường, gia đình và toàn xã hội. Coi đó là lợi ích trường tồn của toàn dân tộc, Người chỉ rõ: Trường học, gia đình và toàn thể thanh niên phải chú ý đến giáo dục tư tưởng, thái độ hoạt động và sinh hoạt hàng ngày của thanh niên để kịp thời khuyến khích, uốn nắn, sửa chữa.
    Một trong những nội dung quan trọng Bác Hồ dạy thanh niên đó là: Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu đạo đức. Đó cũng là 5 đức tính mang đậm bản sắc văn hoá của người Việt Nam. Và muốn vậy, hơn bao giờ hết cán bộ đoàn viên, thanh niên phải xây dựng cho mình tinh thần độc lập suy nghĩ và chủ động sáng tạo,…
    Tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau vẫn giữ nguyên giá trị hiện thực, tính thời sự và có ý nghĩa to lớn cần được các cấp uỷ Đảng, chính quyền, Đoàn thanh niên và toàn xã hội nghiên cứu, quán triệt, vận dụng vào công tác vận động giáo dục thanh niên.
    * Quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về thanh niên và giáo dục thanh niên:
    Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thành lập luôn luôn đặt công tác thanh niên và giáo dục thanh niên là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Đảng nhận thấy phải đoàn kết, tập hợp thanh niên Việt Nam vào một tổ chức cộng sản trẻ tuổi (Đoàn thanh niên). Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo công tác thanh niên, Đảng ta đã đề ra nhiều nghị quyết, chỉ thị, quyết định về công tác thanh niên. Những vấn đề về giáo dục thanh niên được đề cập trong các Nghị quyết từ Đại hội I đến Đại hội XI của Đảng và trong các nghị quyết chuyên đề về công tác thanh niên như Nghị quyết số 181 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá III) ngày 25/9/1963 về “Tăng cường công tác thanh niên”, Nghị quyết số 26, ngày 04/7/1985 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá V) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên”; Nghị quyết 25, ngày 09/02/1991 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VI); Nghị quyết số 04, ngày 04/01/1993 của BCH Trung ương Đảng (khoá VII) về “Công tác thanh niên trong tình hình mới”; Nghị quyết số 25 ngày 25/7/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá  đất nước”. Qua các nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện những quan điểm sau:
    - Đánh giá đúng để hiểu, tin và dựa hẳn vào thanh niên.
    - Công tác thanh niên là của toàn xã hội.
    - Công tác thanh niên là một khoa học.
    - Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với thanh niên.
    - Xây dựng Đoàn TNCS Hồ Chí Minh vững mạnh làm hạt nhân chính trị vững chắc để mở rộng mặt trận đoàn kết tập hợp thanh niên.
    - Tăng cường quản lý Nhà nước đối với công tác thanh niên.
    Nghị quyết 04 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VII) khẳng định:
    “Thanh niên ta ngày nay là lực lượng xã hội to lớn, có tiềm năng hùng hậu. Kế thừa tinh hoa truyền thống của dân tộc và những thành quả của cách mạng qua mở rộng giao lưu quốc tế, thanh niên ngày càng có mặt mạnh cơ bản là trình độ học vấn cao hơn trước, tầm nhìn rộng, nhạy cảm với thời cuộc, giàu lòng yêu nước, có khát vọng mau chóng đưa đất nước vượt qua nghèo nàn, lạc hậu, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh… thanh niên là lực lượng xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ 21 có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không phần lớn tuỳ thuộc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên”.
    Nghị quyết số 25 ngày 25/7/2008 Ban Chấp hành  Trung ương Đảng (khoá X) đã nêu rõ:
    “Tăng cường giáo dục lý tưởng, đạo đức cách mạng, lối sống văn hoá, ý thức công dân để hình thành thế hệ thanh niên có phẩm chất tốt đẹp, có khí phách và quyết tâm hành động thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”.
    “Tăng cường giáo dục truyền thống văn hoá, lịch sử của Đảng và dân tộc, lý tưởng cách mạng cho thanh niên. Coi trọng giáo dục thanh niên trong hoạt động thực tiễn và các phong trào thi đua yêu nước”.
    “Xây dựng chuẩn mực đạo đức và định hướng giá trị mới cho thanh niên theo tư tưởng Hồ Chí Minh”.
    “Bảo đảm tính chính trị, sự định hướng của Đảng làm phong phú và sâu sắc hơn các nội dung giáo dục, nhất là về lý tưởng, đạo đức lối sống, trong hoạt động báo chí xuất bản, văn hoá, văn nghệ hướng thanh niên vươn tới giá trị chân- thiện- mỹ”.
    “Xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, tạo điều kiện cho thanh niên nâng cao đời sống văn hoá tinh thần, phát triển toàn diện”.
    “Tăng cường quản lý văn hoá, xử lý nghiêm các sai phạm, kịp thời ngăn chặn các sản phẩm không lành mạnh tác động xấu đến thanh niên, nhất là qua Internet và các phương tiện thông tin đại chúng khác”…
    1.2. QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ VĂN HÓA VÀ XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC:
    1.2.1. Quan niệm về văn hóa, bản sắc văn hóa:
             Văn hoá: Theo UNESCO là tổng thể các giá trị phức hợp các mặt tình cảm và tri thức, vật chất và tinh thần của một xã hội, cộng đồng, dân tộc, bao gồm cả phương thức sống, các quyền cơ bản, những truyền thống, nếp sống. Nó là kết quả của tất cả các thành tích của từng người, toàn thể nhân loại trong tất cả các lĩnh vực, dưới mọi khía cạnh; từng phạm vi các thành tựu hoạt động, khả năng hoàn thiện tinh thần nhân  cách và sự tiến bộ chung.
    Bản sắc văn hoá dân tộc: là đặc điểm riêng đặc trưng của nền văn hoá mỗi dân tộc, là cái “hồn”, là sức sống “nội sinh” của mỗi dân tộc, để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác, nó có thể biểu hiện một cách trọn vẹn nhất sự hiện diện của mình trong quá trình giao lưu và hội nhập.
    Hội nhập kinh tế quốc tế: Là sự gắn kết nền kinh tế một nước vào các tổ chức kinh tế quốc tế như: giảm thuế, giảm hàng rào phi thuế, giảm hạn chế đối với thương mại dịch vụ, giảm thiểu hạn chế đối với đầu tư, điều chỉnh ngân sách quản lý thương mại, nâng cao năng lực về văn hoá- xã hội, thuận lợi hoá hoạt động thương mại. Bản chất của hội nhập kinh tế quốc tế là mở rộng thị trường; tranh thủ vốn và công nghệ thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài; giải quyết việc làm; tăng trưởng kinh tế; học tập kinh nghiệm quản lý. Đây là bước đi của mỗi quốc gia dần xoá bỏ tự cung, tự cấp để hội nhập nền kinh tế toàn cầu.
    1.2.2. Bản sắc văn hóa Việt Nam:
    Văn hoá Việt Nam là thành quả hàng ngàn năm lao động, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng làm giàu đẹp thêm cho nền văn hoá nước ta. Nguyễn Trãi đã từng khẳng định “Như nước Đại Việt ta từ trước; vốn xưng nền văn hiến đã  lâu”. Truyền thống văn hoá Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc.
    Trong sự nghiệp lãnh đạo đất nước Đảng ta luôn luôn dành sự quan tâm đặc biệt đối với công tác văn hoá, văn nghệ. Chính vì thế, ngay từ năm 1943, mười ba năm sau ngày thành lập Đảng, giữa bộn bề công việc cấp bách, Đảng ta đã có một chủ trương đúng đắn, kịp thời: công bố một cương lĩnh cho sự nghiệp xây dựng một nền văn hoá mới, nền Văn hoá Cách mạng Việt Nam Đó chính là “Đề cương văn hoá Việt Nam”. Năm mươi năm sau, năm 1993, nghị quyết số 04 của Ban chấp hành Trung ương khoá VII ra đời đã đặt ra yêu cầu đào tạo bồi dưỡng thế hệ thanh niên thành thế hệ con người mới có lý tưởng cao đẹp, giàu lòng yêu nước, vững vàng về chính trị, kiên định con đường xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) đã chỉ ra những phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu và giải pháp có tính chiến lược, lâu dài để xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc về văn hoá chính trị, đạo đức, lôí sống, đời sống văn hoá và các hoạt động văn học, nghệ thuật,... Đại hội XI của Đảng đã khẳng định: “ Củng cố và tiếp tục xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú, đa dạng; tiếp tục đẩy mạnh nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội,…; triển khai cuộc vận động xây dựng gia đình Việt nam  giữ gìn và phát triển những giá trị truyền thống của văn hóa, con người Việt Nam; nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ”.
    Một trong những nhiệm vụ chủ yếu nêu ra tại Đại hội XI của Đảng là: “Phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực ; phát triển khoa học công nghệ và kinh tế tri thức. Tập trung giải quyết vấn đề việc làm và thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tạo bước tiến rõ rệt về thực hiện tiến bộ và công băng xã hội, bảo đẩm an sinh xã hội, giảm tỉ lệ hộ nghèo; cải thiện điều kiện chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Tiếp tục xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, đồng thời tiếp thi tinh hoa văn hóa nhân loại. Bảo vệ môi trường, chủ động phòng tránh thiên tai, ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu”.
    Từ năm 2005 đến nay các cơ sở Đảng trên địa bàn huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa đã chỉ đạo xây dựng tổ chức Đoàn theo yêu cầu nội dung của Nghị quyết XXIV, XXV của Ban chấp hành Đảng bộ huyện Hậu Lộc về: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên từ năm 2005 đến 2015, với một trong những nhiệm vụ trọng tâm là tăng cường các hoạt động văn hoá, nhằm giáo dục và nâng cao hiểu biết cho thanh thiếu nhi về các giá trị văn hoá truyền thống, lòng tự hào và ý thức tự tôn dân tộc góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại.
    Từ những vấn đề được nêu ở trên cho ta có thể thấy rõ công tác giáo dục thanh niên giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc luôn được Đảng, Nhà nước và Bác Hồ coi trọng, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay. Công tác tư tưởng - văn hoá diễn ra trong bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế có nhiều diễn biến nhanh chóng, thời cơ và thách thức đan xen nhau, đòi hỏi chúng ta phải chủ động hơn nữa trong quá trình giao lưu hội nhập. Mỗi đoàn viên thanh niên cần xác định việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc thể hiện qua việc sống theo nếp sống văn hoá người Việt là yếu tố quyết định trong việc hình thành phẩm chất đạo đức cách mạng và nhân cách trong thời đại mới, là trách nhiệm  của mỗi người Việt Nam.
    1.3. MỤC ĐÍCH, NGUYÊN TẮC, CỦA CÔNG TÁC GIÁO DỤC THANH NIÊN GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC:
    1.3.1. Mục đích:  
    Mọi hoạt động giáo dục về văn hoá cho thanh niên nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hoá, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộng đồng xã hội. Thúc đẩy thanh niên tự hoàn thiện nhân cách, kế thừa truyền thống cách mạng của dân tộc, phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực tự cường, xây dựng và bảo vệ tổ với mục tiêu: độc lập dân tộc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh.
    1.3.2. Nguyên tắc:
    * Nguyên tắc của công tác tuyên truyền giáo dục thanh niên giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế:
    Công tác giáo dục thanh niên giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc trong thời kỳ mới được xác định trên cơ sở những luận điểm chung nhất về yêu cầu của nội dung và hình thức giáo dục cho thanh niên theo tinh thần của lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, theo những chuẩn mực của đạo đức cách mạng và nâng cao tính tích cực chính trị- xã hội, tính tích cực lao động của mỗi cá nhân.
    Do đó các nguyên tắc giáo dục thanh niên giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc trong tình hình mới cũng đựơc phân thành 2 nhóm: nhóm nội dung và hình thức, phương pháp.
    Nhóm nội dung gồm những nguyên tắc:
    Thứ nhất, nguyên tắc chủ đạo trong nội dung giáo dục là nguyên tắc tính Đảng. Thực chất của nó là công khai đánh giá các hiện tượng của đời sống xã hội trên lập trường của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên quyết đấu tranh để bảo vệ và khẳng định lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, lợi ích của thế hệ trẻ. Vì thế, nguyên tắc này bao gồm cả việc đấu tranh không khoan nhượng với những quan niệm phản khoa học, xa lạ hoặc thù địch với chủ nghĩa Mác- Lênin, với tất cả những gì đang cản trở tiến trình đổi mới đất nước, làm phương hại đến lợi ích của Đảng, của dân tộc.
    Thứ hai, nguyên tắc khách quan là quan trọng nhất trong nội dung giáo dục này. Nhìn thẳng vào sự thật trong đó có cả thành tựu và những thiếu sót, sai lầm cả thuận lợi và khó khăn trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, từ đó định hướng cho hoạt động văn hoá của lớp trẻ, phát huy ưu điểm, khắc phục sai lầm, khuyết điểm, tranh thủ thời cơ thuận lợi, vượt qua khó khăn trở ngại để vươn lên trong học tập, lao động, sản xuất kinh doanh trong quá trình giao lưu hội nhập quốc tế.
    Thứ ba, quan điểm lịch sử- cụ thể cũng là một nguyên tắc quan trọng. Tính cụ thể của chân lý là linh hồn sống của chủ nghĩa Mác- Lênin. Vì vậy trong giáo dục thanh niên giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, cần phải đặc biệt chú ý đến điều kiện lịch sử- cụ thể hiện nay của đất nước, đang trong trạng thái quá độ về tất cả các phương diện: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội.
    Nhóm phương pháp gồm những nguyên tắc:
    Thứ nhất, nguyên tắc cá thể hoá trong phương pháp giáo dục xuất phát từ thực tế sau đây: mỗi người sống trong điều kiện xã hội, địa lý và cơ sở những đặc điểm tâm lý riêng, với trình độ kiến thức, kinh nghiệm sống cụ thể… Bên cạnh đó, tính hệ thống, tính triệt để và tính kế thừa là những đòi hỏi mang tính nguyên tắc trong việc xác định các hình thức, phương pháp giáo dục.
    Thứ hai, hấp dẫn và thuyết phục là một đòi hỏi tất yếu của công tác giáo dục. Nội dung của lý tưởng cần được hệ thống hoá, sắp xếp một cách lôgic, thông tin được phân loại. Đồng thời sử dụng các phương pháp khoa học: so sánh, đối chiếu, khái quát hoá và cụ thể hoá, phân tích và tổng hợp, đi từ cái đơn nhất, từ cụ thể đến trừu tượng và từ trừu tượng đến cụ thể.
    Thứ ba, phải phản ứng mau lẹ và kịp thời trước những sự kiện làm chấn động dư luận xã hội. Một thông tin kịp thời mang tính định hướng khách quan, khoa học sẽ gây dấu ấn sâu sức trong ý thức con người. Trái lại, mọi sự phản ứng chậm chạp, khiên cưỡng sẽ làm giảm hiệu quả của công tác giáo dục…
    Việc tuân thủ một cách nghiêm túc và triệt để những nguyên tắc nêu trên là điều kiện cần thiết để nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục thanh niên giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
    1.4. GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VỚI THANH NIÊN TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP LÀ MỘT YÊU CẦU CẤP THIẾT GIAI ĐOẠN HIỆN NAY:
              Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) của Đảng về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã xác định: Phương hướng chung của sự nghiệp văn hóa nước ta là phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập, tự chủ tự cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi hình thức sinh hoạt và quan hệ con người tạo nên trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.
         Trong quá trình mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế và giao lưu văn hóa cùng với việc tập trung những giá trị mới của văn hóa Việt Nam đương đại, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo tồn, kế thừa phát huy các giá trị tốt đẹp truyền thống văn hóa dân tộc và tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới, bắt kịp với sự phát triển của thời đại. Vừa phát huy mạnh mẽ tính đa dạng, bản sắc văn hóa độc đáo của các dân tộc anh em làm phong phú nền văn hóa chung của cả nước, vừa kiên trì củng cố và nâng cao tính thống nhất đa dạng của nền văn hóa, đấu tranh các khuynh hướng để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.
              Xây dựng nền văn hóa Viêt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc nhằm tạo một nền văn hóa Việt Nam hiện đại có sự thống nhất hữu cơ giữa tính chất “ tiên tiến” và “bản sắc dân tộc” đậm đà. Tính tiên tiến và bản sắc dân tộc của nền văn hóa Việt Nam có mối quan hệ biện chứng tác động, quy định lẫn nhau trong các hoạt động văn hóa, các lĩnh vực văn hóa.
    Quán triệt quan điểm xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, những năm qua các ban ngành chức năng và tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh từ Trung ương đến địa phương đã tổ chức nhiều hoạt động nhẳm giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc cho thế hệ trẻ thông qua việc tổ chức các hoạt động thực tiễn và các chương trình hành động cách mạng. Việc vận động đoàn viên, thanh niên tham gia phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” hay “Cưới văn minh, lành mạnh, tiết kiệm” là một biểu hiện cụ thể sinh động của quan điểm thực tiễn.
    Ở huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa hiện nay, bên cạnh việc phối hợp với các ban ngành chức năng, Ban chấp hành Huyện Đoàn đã quan tâm xây dựng kế hoạch, tổ chức nhiều hoạt động đáp ứng nhu cầu văn hoá lành mạnh gắn với việc định hướng tiếp thu văn hoá du nhập từ nước ngoài vào cho thanh niên. Quá trình nỗ lực cố gắng đó đã đưa những chủ trương, nghị quyết của Đảng về xây dựng đời sống văn hoá mới đến với thanh niên của 27/27 xã, thị trấn trên địa bàn huyện. Tuy nhiên, công tác giáo dục thanh niên giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc cho thanh niên chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức. Điều này thể hiện trong việc quản lý văn hoá, việc đầu tư cơ sở vật chất cho công tác bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc trên địa bàn huyện nhìn chung còn hạn chế; chưa có các thiết chế văn hoá đủ mạnh, đủ sức lôi cuốn thanh niên,…
    Vì vậy, dù đã có nhiều cách làm hay, sáng tạo trong quá trình triển khai nhưng hiệu quả mang lại chưa cao. Ở hầu hết các địa phương trong toàn huyện có không ít nhưng biểu hiện thanh niên tiếp thu văn hoá chưa có chọn lọc, chưa trân trọng giữ gìn những truyền thống văn hoá cao quý của dân tộc ngay từ trong đời sống.
    CHƯƠNG 2

    THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC THANH NIÊN GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC Ở HUYỆN HẬU LỘC, THANH HÓA TỪ NĂM 2007 ĐẾN NAY

    2.1. KHÁI QUÁT VỀ  ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÌNH HÌNH KINH TẾ - CHÍNH TRỊ - VĂN HOÁ - XÃ HỘI VÀ HỘI NHẬP Ở HẬU LỘC:
    2.1.1 Điều kiện tự nhiên:
    Hậu Lộc là một huyện đồng bằng ven biển, cách trung tâm thành phố Thanh Hóa 25 km về phía đông bắc. Phía bắc giáp huyện Nga Sơn, Hà Trung; phía nam và phía tây giáp huyện Hoằng Hóa; phía đông giáp biển Đông nên khá thuận lợi cho việc phát triển kinh tế biển. Điều kiện tự nhiên rất đa dạng, giàu tiềm năng với 3 vùng: vùng đồi, vùng đồng bằng chủ yếu là phù sa và vùng ven biển. Hệ thống giao thông khá phát triển do có tuyến Quốc lộ 1A, tuyến đường sắt Bắc- Nam và Quốc lộ 10 chạy qua. Những yếu tố này đã tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế Hậu Lộc phát triển trên các lĩnh vực nông - lâm nghiệp, thủy hải sản, thủ công nghiệp và dịch vụ.
    2.1.2. Tình hình chính trị:
    * Hoạt động của hệ thống chính trị tại địa phương:
    Những năm qua, các tổ chức trong hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở đã có nhiều hoạt động tích cực theo chức năng nhiệm vụ, kịp thời động viên các tầng lớp nhân dân phát huy truyền thống cách mạng, vượt qua khó khăn thử thách, đoàn kết sáng tạo thực hiện công cuộc đổi mới và đã đạt được những kết quả quan trọng trên tất cả các lĩnh vực như: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đời sống của nhân dân toàn huyện.
    Tuy nhiên, các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở còn bộc lộ những thiếu sót, khuyết điểm như: Vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở Đảng còn hạn chế, nhất là việc tổ chức học tập, tuyên truyền phổ biến chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa kịp thời, chưa sâu sắc, việc xây dựng nghị quyết và chương trình hành động chưa cụ thể, chưa sát hợp với điều kiện địa phương. Do đó việc tổ chức thực hiện kém hiệu quả, thậm chí có nơi chưa đi đôi với việc làm; một bộ phận cán bộ thiếu tinh thần trách nhiệm, buông lỏng quản lý, thiếu dân chủ và xa rời dân; hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân còn chậm đổi mới, nội dung và phương pháp chưa sát hợp điều kiện cụ thể, nhiều hoạt động còn hình thức; sự phối hợp của các tổ chức trong hệ thống chính trị chưa thật chặt chẽ và thường xuyên,…
    * Hệ thống tổ chức của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện Hậu Lộc:
    Hiện nay, Đoàn thanh niên Hậu Lộc có 48 cơ sở Đoàn trực thuộc huyện bao gồm: 27 Đoàn xã, thị trấn; 6 Đoàn trường THPT và Trung tâm giáo dục thường xuyên, 1 chi đoàn Trường THCS chuyên Lê Hữu Lập;  11 cơ sở Đoàn cơ quan gồm: Chi đoàn cơ quan Huyện ủy, cơ quan ủy ban nhân dân huyện, cơ quan Bệnh viện đa khoa huyện, công an huyện, ban chỉ huy quân sự huyện, trung tâm y tế huyện, chi cục thuế huyện, trung tâm dạy nghề huyện, công ty cổ phần thương mại huyện, khuyến nông huyện, viện kiểm sát nhân dân huyện. 452 chi đoàn cơ sở, 13.160 đoàn viên, trong đó đoàn viên trên địa bàn dân cư chiếm tỷ lệ 25% đến 30%; Gần 34.000 thanh niên tham gia tổ chức Đoàn- Hội, đạt tỷ lệ tập hợp thanh niên là 68,7%.
    Cơ cấu thanh niên: Thanh niên công nhân viên chức chiếm tỷ lệ khoảng 15%, thanh niên nông thôn chiếm tỷ lệ khoảng 25%, còn lại là thanh niên học sinh, thanh niên trong lực lượng vũ trang.
    Từ những điều kiện tự nhiên đó đã tác động lớn đến thanh niên huyện Hậu Lộc trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc của toàn huyện.
    2.1.3. Tình hình kinh tế- xã hội:
    Với bờ biển dài 12 km, cùng 2 cửa lạch lớn ( Lạch Trường và Lạch Sung), kinh tế biển đang là kinh tế mũi nhọn và đang được quan tâm phát triển cả trong khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy hải sản; kỹ thuật khai thác, đánh bắt và vươn khơi của nhân dân ngày càng phát triển, đánh bắt trên cả 3 vùng biển ( vùng lộng, vùng trung và vùng khơi xa). Bình quân mỗi năm có trên 800 lượt tàu thuyền vươn khơi đánh bắt hải sản, với tổng công suất trên 26.000CV ( trên 30 tàu công suất từ 75CV đến 360CV - thuộc chương trình đánh bắt xa bờ). Mấy năm gần đây do lợi thế bờ biển dài, nhân dân đã khoanh vùng nuôi ngao, nuôi tôm sú, tôm cành xanh, cá rô phi đơn tính,… đem lại hiệu quả kinh tế cao. Biển Hậu Lộc có độ mặn cao, kết hợp với khí hậu, nắng, gió tạo nên nghề muối truyền thống ( có từ những năm 1897). Nghề muối mỗi năm cung cấp cho thị trường 10 -12 nghìn tấn. Tuy nhiên, ngành nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế của huyện. Từ nhận thức đó, Hậu Lộc đã có những chuyển đổi mạnh mẽ về cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng mùa vụ; tăng cường chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật; đẩy mạnh công tác khuyến nông - khuyến lâm; tích cực ứng dụng các tiến bộ về sinh học, về giống; tăng hệ số sử dụng đất nhằm nâng cao sản lượng, chất lượng các mặt hàng nông sản. Các mô hình kinh tế khác như chương trình sinh hóa đàn bò, nuôi lợn ngoại theo quy trình công nghiệp để xuất khẩu, nuôi gia cầm theo quy trình công nghiệp đã phát triển khá mạnh. Ngoài ra các mô hình làng nghề đã hình thành như mô hình nghề Rèn Tiến Lộc, nghề mây tre đan Đa Lộc, nghề rát Bạc ở Hưng Lộc, đóng sữa tàu thuyền ở Ngư Lộc cùng các nghề khác đang du nhập và phát triển, góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế của toàn huyện. Với quan điểm phát triển toàn diện, bền vững. Đồng thời để khai thác có hiệu quả vùng đồi, Hậu Lộc đã trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc (năm 2013 đạt 1.298,6ha), trồng cây chắn sóng và lấn biển ( năm 2013 đạt 125,4ha). Cải tạo vườn tạp thành vườn cây ăn quả, hình thành thêm nhiều trang trại vườn rừng, phát triển mô hình kinh tế VAC, tạo cảnh quan môi trường xanh, sạch, đẹp.
    Trong những năm hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện Nghị Quyết 02 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa về “ Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh trên địa bàn tỉnh”. Hậu Lộc đã tích cực kêu gọi và hiện tại đã xây dựng hoàn thiện 03 công ty, trong đó có 01 công ty may IVORY Hàn Quốc thu hút hơn 3.000 công nhân, 01 công ty Dụng cụ thể thao DELTA thu hút gần 300 công nhân, 01 công ty ô tô VINASUKY thu hút 150 công nhân. Hiện tại đang có 02 công ty đang tiến hành xây dựng, lắp đặt tại huyện. Với tư tưởng phát triển dịch vụ - thương mại. Với những mặt hàng sẵn có tại địa phương, Hậu Lộc đã mạnh dạn đầu tư và đưa ra thị trường một số sản phẩm thương hiệu được xuất khẩu trong nước và quốc tế như Mắm Tôm, Rượu Chi Nê, sản phẩm Rèn Tiến Lộc, Gạo Hậu Lộc, gần đây là các sản phẩm về các mặt hàng thủy hải sản chất lượng cao cũng được nhân dân chế biến và xuất khẩu.
    Từ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng bộ Huyện, Hậu Lộc đã đạt được nhiều thành tựu trong lĩnh vực kinh tế, xã hội như sau: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 12,6%/năm, năm 2007 là 9,8%, năm 2013 đạt 13,2%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, tỷ trọng công nghiệp- xây dựng và dịch vụ tăng; tỷ lệ nông, lâm, ngư nghiệp giảm. Thu nhập bình quân đầu người năm 2007 là 8,5 triệu/năm, đến năm 2013 đạt 13,4 triệu/ năm. Diện tích gieo trồng hàng năm đạt 17.300ha. Sản lượng lương thực đạt 74.000 tấn, tăng 8,83% so với năm 2007. Bình quân lương thực đầu người đạt 453 kg. Toàn huyện có 458 trang trại, trong đó có 86 trang trại đạt chuẩn, với thu nhập bình quân 80-150 triệu đồng/ trang trại/năm trở lên. Sản lượng thủy hải sản đạt 25.000 tấn, tăng 68,3% so với năm 2007. Sản lượng sản xuất muối biển đạt 13.500 tấn, tăng 25% so với năm 2007. Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp- xây dựng tăng 158,5% so với năm 2007.  Đã giải quyết việc làm mới cho hơn 13.000 lao động. Tổng số lao động đang làm việc tại nước ngoài là 2.671 người. Công tác xoá đói giảm nghèo trên địa bàn huyện thực hiện tương đối tốt, tỷ lệ đói nghèo theo chuẩn mới ở mức dưới 7%, trong khi năm 2007 là 18,6% và năm 2010 là 11,5%. Chất lượng giáo dục toàn diện có nhiều chuyển biến tích cực, tỷ lệ học sinh lên lớp và tốt nghiệp đạt từ 98% trở lên. Mỗi năm có từ 1.100 đến 1.550 học sinh đỗ vào các trường đại học, cao đẳng. Toàn huyện có 58/90 trường đạt chuẩn quốc gia. Hệ thống y tế từ huyện đến cơ sở được củng cố và tăng cường, cơ sở vật chất được đầu tư đáng kể; đến nay toàn huyện có 11 Bác sỹ CK1, 22/27 xã, thị trấn có Bác sỹ, 82% trạm y tế xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm xuống còn 0,76%.
    Dân số toàn huyện tính đến năm 2009 có 163.971 người, sinh sống tại 27 xã, thị trấn. Những năm gần đây, tốc độ đô thị hoá ngày càng cao, kéo theo sự  thu hút dân số vào các khu công nghiệp, khu đô thị ngày càng lớn. Số lao động làm ăn xa ngày càng tăng nên dân cư sống ở nông thôn giảm dần.  
    Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội toàn huyện đến năm 2015 như sau:
    - Tốc độ bình quân hàng năm đạt 14,3% trở lên.
    - Cơ cấu nền kinh tế chuyển đổi theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp xây dựng lên 34% trở lên, nông, lâm, ngư nghiệp, thuỷ hải sản 33,5% trở lên, các ngành dịch vụ đạt 32,5% trở lên. Phấn đấu đến 2015 có 500 doanh nghiệp trở lên.
    - Sản lượng lương thực ổn định hàng năm 74.000 tấn; sản lượng thủy hải sản 35.000 tấn; Giá trị hàng hóa tham gia xuất khẩu đến năm 2015 đạt 25 triệu USD trở lên.
    - Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt 3.500 tỷ đồng.
    - Giữ vững và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục Tiểu học, THCS đúng độ tuổi, từng bước phổ cập giáo dục THPT.
    - Ổn định tỷ lệ tăng dân số dưới 0,7%.
    - Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 45%.
    - Giảm tỷ lệ đói nghèo trong toàn huyện xuống dưới mức 4%.
    Như vậy, trong giai đoạn tới việc thực hiện được các mục tiêu quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, chương trình mục tiêu quốc gia “ xây dựng nông thôn mới” sẽ là điều kiện và môi trường để tuổi trẻ rèn luyện, cống hiến và trưởng thành, xung kích thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng ở vùng Biển Đông của Tổ quốc. Nhưng đồng thời sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế kéo theo là sự chuyển dịch lao động xã hội đã làm cho đời sống văn hoá của  thanh niên toàn huyện có những biến đổi sâu sắc về kinh tế, văn hoá, xã hội. Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một bộ phận quan trọng của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, là sự nghiệp to lớn và lâu dài đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, đặc biệt là thanh niên phải phấn đấu với ý chí cách mạng kiên định, với trí tuệ sáng tạo và tinh thần tự giác cao.
    2.1.3. Tình hình văn hóa:
    Hậu Lộc là một vùng đất cổ, có nhiều di tích lịch sử văn hóa lâu đời và nhiều cảnh quan thiên nhiên xinh đẹp. Hậu Lộc có nền văn hóa khảo cổ nổi tiếng thuộc hậu kỳ đá mới và sơ kỳ thời đại đồng thau: “ Văn hóa Hoa lộc”. Cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu ở đầu thời kỳ Bắc thuộc ( năm 248 SCN) để lại trên đất Hậu Lộc chứng tích lịch sử và những di tích lớn. Khu vực Duy tinh- Chợ Phủ là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của quận Cửu Chân suốt thời Lý- Trần. Hậu Lộc cũng là hậu cứ quan trọng của cuộc khởi nghĩa Ba Đình ( Nga Sơn) năm 1886 và là quê hương của Phạm Bành, Hoàng Bật Đạt, Đinh Chương Dương, Lê Hữu Lập, Nguyễn Chí Hiền, Mẹ Tơm,…
    Phát huy những giá trị truyền thống, văn hóa của quê hương. Trong những năm qua, các hoạt động văn hóa đã gắn với việc tập trung tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các nhiệm vụ chính trị của địa phương, biểu dương gương người tốt việc tốt, các điển hình tiên tiến, góp phần nâng cao nhận thức và mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân. Phong trào “Toàn dân đẩy mạnh xây dựng đời sống văn hóa” tiếp tục được đẩy mạnh. Toàn huyện có 6 xã, 195 thôn, làng, 52 cơ quan, trường học khai trương xây dựng cơ quan văn hóa. Có 57 thôn, làng được công nhận danh hiệu đơn vị văn hóa cấp tỉnh, 6 xã và 162 thôn, làng, cơ quan, trường học được công nhận đơn vị văn hóa cấp huyện. Việc thực hiện nếp sống văn minh, gia đình văn hóa được coi trọng, đến nay toàn huyện có hơn 80% số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa. Công tác quản lý văn hóa được tăng cường; một số khu di tích lịch sử văn hóa đã được quan tâm tu bổ, tôn tạo, góp phần giáo dục truyền thống và thúc đẩy du lịch phát triển. Phong trào thể thao quần chúng phát triển cả bề rộng và chiều sâu, chất lượng từng bước được nâng lên. Toàn huyện có 28% số người luyện tập thể dục thể thao, 13,88% số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình thể thao.     
    Tuy nhiên, hoạt động văn hóa còn một số tồn tại như: Hoạt động của một số đơn vị sau khai trương chưa quan tâm đúng mức. Việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới theo Chỉ thị 27 của Bộ chính trị chưa nghiêm túc. Chất lượng giáo dục một số xã vùng đồi và vùng biển chuyển biến còn chậm. Công tác giáo dục đạo đức, giáo dục pháp luật, giáo dục ý thức công dân  cho học sinh chưa được quan tâm đúng mức.
    2.1.4. Khái quát quá trình hội nhập ở Hậu Lộc từ năm 2007 đến nay:
    * Thành tựu:
    + Lĩnh vực kinh tế:
    Hội nhập quốc tế, trước hết và chủ yếu là trên lĩnh vực kinh tế là một nội dung quan trọng trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta nhằm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đáp ứng yêu cầu phát triển  đất nước. Điều này được khẳng định rõ nét trong văn kiện ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, trong văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng năm 1976, đặc biệt Đại hội VI của Đảng đã khẳng định mở rộng, đa dạng hoá và đa phương hoá quan hệ kinh tế đối ngoại trên nguyên tắc giữ vững độc lập chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi, mở ra bước ngoặt trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI một lần nữa xác định: Trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đổi mới toàn diện, đồng bộ với những bước đi thích hợp. Tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế phải gắn với chú trọng xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, giữ vững truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc. Mở rộng, phát huy dân chủ phải gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương và ý thức, trách nhiệm của mỗi công dân, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và cả cộng đồng”. Đó chính là cơ sở có ý nghĩa pháp lý đòi hỏi các địa phương phải vận dụng để phát triển hội nhập.
    Ngay từ những năm đầu của thời kỳ đổi mới, do chưa nhận thức được đầy đủ về quá trình hội nhập, do điều kiện kinh tế, xã hội, cơ sở hạ tầng của địa phương bị tàn phá bởi nhiều năm chiến tranh, kinh tế địa phương chỉ phụ thuộc vào ngành nông nghiệp. Vì vậy, mặc dù có nhiều cố gắng nhưng Hậu Lộc chưa có sự quan tâm đúng mức đến công tác giao lưu, hội nhập. Tuy nhiên, lúc này cũng đã mang mún xuất hiện những sản phẩm, mặt hàng được giao lưu, xuất khẩu sang các nước khác, đặc biệt là hàng hải sản. Sau Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXIV năm 2005, Huyện uỷ, UBND huyện Hậu Lộc đã nhận thấy xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế và khẳng định chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực mà mũi nhọn đầu tiên là thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài coi đó là một trong những giải pháp quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội.
    Có thể nói, sau gần 9 năm đẩy mạnh chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã thu được những kết quả to lớn. Tính từ năm 2005 đã có Nhà máy ô tô Vinasuky lắp đặt công xưởng và thu hút hơn 150 lao động; nhà máy Dụng cụ thể thao Delta thu hút trên 3000 lao động; năm 2007 - nhà máy may công nghiệp IVORY Hàn Quốc vào đầu tư, xây dựng nhà xưởng, thu hút trên 3000 lao động tại địa phương với mức lương từ 2,5- 3,5 triệu đồng/ tháng, đời sống của nhân dân đã có nhiều đổi mới. Tiếp theo đó, Hậu Lộc đã chủ động, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vào đầu tư tại huyện. Hiện tại các nhà máy may, nhà máy chế biến hải sản, nhà máy chế biến ngao và một số nhà máy may đang được láp đạt, xây dựng và dự kiến thu hút trên 5000 lao động tại địa phương.
    + Du lịch - dịch vụ đã và đang mở ra hướng đi mới của huyện bởi những lợi thế của các địa danh lich sử như Đền Bà Triệu, Chùa Sùng Nghiêm, khu di tích mẹ Tơm, Đảo Nẹ,... Do được quan tâm đẩy nhanh việc quy hoạch đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất, tu bổ các khu di tích, xây dựng đội ngũ theo hướng chuyên nghiệp, đổi mới việc tổ chức các lễ hội dân gian như lễ hội cầu Ngư ( Ngư Lộc), lễ hội Duy Tinh ( Văn Lộc), lễ hội Đền Bà Triệu ( Triệu Lộc), Lễ hội đền Hàn Sơn ( Châu Lộc),…; với vị trí địa lý thuận lợi, cảnh quan thiên nhiên xinh đẹp nên trong những năm qua đã thu hút hàng triệu du khách cả nước và quốc tế đến thăm quan, du lịch.   
    + Hoạt động thương mại trên địa bàn huyện diễn ra sôi động, khối lượng hàng hóa lưu thông ngày càng tăng với sự tham gia của nhiều loại mặt hàng. Tốc độ tăng trưởng các ngành dịch vụ đạt 15,5%. Tổng mức giá trị bán lẻ hàng hóa và dịch vụ đạt 523 tỷ đồng, tăng 81,13% so với năm 2007. Giá trị hàng hóa tham gia xuất khẩu là 8,3 triệu USD. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa từ 2007 - 2013 tăng bình quân 7,24%/ năm. Các hoạt động xuất nhập khẩu có bước phát triển.
    + Công tác dự án: Từ năm 2007 đến nay toàn huyện đã tiếp nhận, triển khai 28 dự án do các tổ chức quốc tế, tổ chức phi Chính phủ tài trợ tập trung vào các lĩnh vực xóa đói giảm nghèo, dạy nghề, xóa mù chữ, phát triển doanh nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông, thủy lợi, cơ sở trường học, trạm y tế, bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai, phòng chống HIV/AIDS, phòng chống ma túy, giúp đỡ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, giáo dục chăm sóc sức khỏe sinh sản, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, thực hiện kế hoạch hóa gia đình, chống buôn bán phụ nữ và trẻ em qua biên giới,...
    * Hạn chế
    Tuy đã có tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt và vượt kế hoạch, song chưa tương xứng với tiềm năng lợi thế so sánh của huyện; hiệu quả và sức cạnh tranh trong quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế còn thấp, sức cạnh tranh của sản phẩm địa phương chưa được cải thiện, chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế.
    Đời sống văn hoá- xã hội tuy đã được cải thiện và nâng cao nhưng có mặt chưa tương xứng với nhịp độ phát triển kinh tế; một số lĩnh vực bức xúc chưa được giải quyết tốt. Các thiết chế văn hoá còn thiếu và không đồng bộ, hiệu quả sử dụng còn thấp; đời sống văn hoá ở cơ sở chưa được quan tâm đúng mức.
    2.2. NHỮNG TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC VÀ TIÊU CỰC CỦA QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ TỚI CÔNG TÁC GIÁO DỤC THANH NIÊN Ở HẬU LỘC.
    2.2.1. Những tác động tích cực của quá trình hội nhập quốc tế:
    Đại hội XI của Đảng ta xác định “Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, xu thế này bị một số nước phát triển và các tập đoàn kinh tế tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh”.
    Quá trình toàn cầu hoá, liên kết kinh tế ngày càng diễn ra mạnh mẽ, tác động mạnh mẽ lên mọi quốc gia, mở ra cơ hội cùng với những thách thức to lớn đối với các nước đang phát triển và nhân dân lao động ở tất cả các nước. Kinh tế tri thức với vai trò to lớn của công nghệ thông tin sẽ ngày càng chi phối sự phát triển của các quốc gia. Cuộc đấu tranh của nhân dân và thanh niên thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, vì phát triển công bằng và bền vững, vì tiến bộ xã hội sẽ tiếp tục có những bước phát triển mới. Đối với huyện Hậu Lộc, Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXV xác định "Phấn đấu huy động tối đa nguồn nội lực, khai thác có hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài, tập trung thu hút có chọn lọc nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài, phát triển bền vững nền kinh tế gắn với giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc”. Quá trình chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế sẽ diễn ra nhanh chóng, các yếu tố nước ngoài như hàng hóa, công việc, con người, văn hóa, thông tin... sẽ trở thành bộ phận ngày càng quan trọng và tác động ngày càng sâu rộng đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của thanh niên Hậu Lộc, tạo ra những cơ hội mới đồng thời với những thách thức mới. Giao lưu, hợp tác và đấu tranh quốc tế diễn ra không chỉ ở ngoài nước mà còn diễn ra ngay tại trong nước, trong tỉnh, trong huyện với quy mô ngày càng tăng và tính chất ngày càng đa dạng và phức tạp.
    Cả trên phương diện lý luận và thực tiễn cho thấy quá trình chủ động hội nhập quốc tế ở huyện Hậu Lộc đã và đang diễn ra những tác động tích cực sau đây đối với thanh niên:
     Thanh niên huyện Hậu Lộc hiện có trong cơ cấu của mọi giai tầng xã hội, mọi thành phần kinh tế. Cùng với sự biến đổi của cơ cấu kinh tế, của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn liền với quá trình đô thị hoá làm biến đổi cơ cấu thanh niên theo hướng tăng tỷ lệ thanh niên tham gia trong các thành phần kinh tế tư nhân, tiểu chủ, tư bản tư nhân, có vốn đầu tư nước ngoài và giảm tỷ lệ thanh niên ở thành phần kinh tế quốc doanh, thanh niên trong các cơ quan hành chính sự nghiệp. Cơ cấu thanh niên theo địa bàn dân cư biến đổi theo hướng tăng ở khu đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất và giảm ở nông thôn.
    Một là: như trên đã phân tích, rõ ràng thông qua hội nhập quốc tế đã thúc đẩy sự phát triển sâu rộng của các quan hệ kinh tế quốc tế, tạo cơ hội cho huyện Hậu Lộc tận dụng được thị trường, khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến của khu vực và thế giới cho các hoạt động sản xuất- kinh doanh; mở ra khả năng tham gia nhanh chóng và hiệu quả vào hệ thống phân công lao động quốc tế, tận dụng nguồn lực phục vụ mục tiêu phát triển. Quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế cùng với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã và đang tạo tiền đề vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của các tầng lớp nhân dân, trong đó có thanh niên . Do hiện thực sinh động về kinh tế- xã hội của toàn huyện như vậy nên đã tác động tích cực tới thanh niên Hậu Lộc. Điều này được thể hiện ở chỗ:
    - Thanh niên Hậu Lộc tự hào, tin tưởng vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới trong đó có đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng, niềm tin ấy ngày càng tăng và có cơ sở khoa học vững chắc hơn. Theo kết quả thăm dò của Huyện đoàn Hậu Lộc (tháng 5/2012) cho thấy nét nổi bật là đa số thanh niên Hậu Lộc đều nhận thức đúng đắn những biến động chính trị của thế giới và chủ trương mở cửa, giao lưu, hợp tác quốc tế, sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước trên thế giới, 98,5% thanh niên công nhân viên chức, 85,2% thanh niên nông thôn, 97,1% thanh niên học sinh được hỏi tán thành chủ trương chủ động hội nhập quốc tế.
    - Trong thanh niên Hậu Lộc đã ngày càng bộc lộ rõ tinh thần năng động dám nghĩ, dám làm, tự vươn lên lập thân lập nghiệp, tự cường, tích cực học tập nghiên cứu khoa học, coi trọng tư duy kinh tế.
    Theo báo cáo sơ kết quý 1 năm 2014 của Ban Chấp hành huyện đoàn Hậu Lộc, toàn huyện có 84 trang trại thanh niên làm chủ với số vốn đầu tư từ 50 triệu đồng trở lên, thu hút hàng trăm lao động. Đặc biệt là đã thành lập được Hợp tác xã thanh niên Triệu Lộc với số người tham gia là 27 xã viên, tổ hợp tác chăn nuôi Minh Lộc với số người tham gia là 30 xã viên. Nhiều thanh niên đã mạnh dạn mở các xưởng chế biến hải sản, lò rèn, xưởng gỗ, đầu tư xây dựng trang trại tổng hợp, mua sắm tàu thuyền công suất cao để vươn khơi phát triển kinh tế. Thanh niên khối công chức, viên chức đã có nhiều tiến bộ trong việc đã chủ động học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tin học, ngoại ngữ. Nâng cao hiệu lực cải cách hành chính trong phong trào “ Ba trách nhiệm” và “ Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí”. 85% thanh niên được hỏi cho rằng hành trang quan trọng nhất để bước vào cuộc sống là phải có sức khỏe, trí tuệ, ý chí tự lập, nghị lực vượt khó và phải có hoài bão. 98% thanh niên học sinh được hỏi trả lời là phải phấn đấu học để thạo ít nhất một nghề và biết nhiều nghề càng tốt và cho rằng phải biết ít nhất một ngoại ngữ trở lên. Số thanh niên được đào tạo nghề, xuất khẩu lao động, tốt nghiệp Đại học, cao đẳng ở Hậu Lộc tăng lên đáng kể.
    - Phần lớn thanh niên Hậu Lộc tỏ rõ thái độ bất bình trước những tệ nạn xã hội và tiêu cực xã hội đặc biệt là tệ tham nhũng, quan liêu, vi phạm dân chủ:
    Huyện đoàn đã phối hợp với Ban tuyên giáo huyện Ủy phát 100 phiếu hỏi đối tượng đoàn viên thanh niên đã lập gia đình, tách hộ độc lập thì có tới trên 92 phiếu trả lời rất bất bình trước thái độ sách nhiễu gây phiền hà của cán bộ công chức chính quyền cơ sở và cấp huyện trong việc giải quyết các thủ tục giấy tờ liên quan đến khai sinh, hộ tịch, hộ khẩu, nhà đất cho dân; 8 phiếu khác không tỏ thái độ gì.
    Đa số thanh niên Hậu Lộc có nguyện vọng phấn đấu trở thành đoàn viên, trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, có ý thức xây dựng chính quyền, góp phần tạo dựng môi trường xã hội lành mạnh, dân chủ, văn minh. Số thanh niên phấn đấu vào Đoàn tăng lên rõ rệt, từ năm 2007 -2013 đã kết nạp mới 10.027 đoàn viên, giới thiệu cho Đảng 1.672 đoàn viên ưu tú, trong đó có 1.153 người đã được kết nạp Đảng đạt 68,9% so với tổng số đoàn viên ưu tú được giới.
    Một xu hướng tích cực trong thế hệ trẻ hiện nay là phấn đấu theo mẫu người lý tưởng phù hợp với những đặc điểm của giai đoạn cách mạng mới, giai đoạn hội nhập xu thế toàn cầu hoá, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nếu như trong chiến tranh cứu nước mẫu người lý tưởng của thanh niên là hình ảnh anh bộ đội Cụ Hồ, trong thời kỳ bao cấp mẫu người lý tưởng của thanh niên gồm những phẩm chất có phần nào chung chung trừu tượng (vì tập thể, có tư tưởng đúng, tình cảm đẹp… ) thì hiện nay, mẫu người lý tưởng của thanh niên cụ thể hơn, hiện thực hơn, sinh động hơn. Đó là những con người có trí tuệ, giỏi chuyên môn, giỏi ngoại ngữ, tin học, thạo việc, năng động, tháo vát, thích ứng nhanh với hoàn cảnh mới, có bản lĩnh, trung thực, giữ được chữ tín với mọi người, biết quý trọng và tiết kiệm thời gian, tiền bạc, của cải, quan tâm đến năng suất, chất lượng, hiệu quả, có chí tiến thủ, tiếp cận với khoa học- công nghệ hiện đại, có ý thức hợp tác và ý thức pháp luật; kết hợp hài hoà giữa vẻ đẹp của hình thức với vẻ đẹp của trí tuệ và tâm hồn, cống hiến, hưởng thụ và trưởng thành, biết lo cho bản thân, gia đình và xã hội, gắn nghĩ- nói với làm...
    Hai là: chính trong quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế ở Hậu Lộc và trên địa bàn toàn tỉnh với sự phát triển mạnh mẽ của các thành phần kinh tế, nhất là tốc độ phát triển các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,… đã mở ra những cơ hội mới giải quyết ngày càng tốt hơn nhu cầu việc làm và thu nhập của thanh niên, đặc biệt là số thanh niên đã qua đào tạo. Chỉ tính riêng từ năm 2005- 2013 nhờ đầu tư  FDI vào Hậu Lộc đã giải quyết việc làm cho hơn 6.500 lao động, trong đó có 80% là thanh niên. Đồng thời chính quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của huyện tất yếu đòi hỏi phải đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ, thúc đẩy sự nghiệp giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ toàn huyện, đặt thanh niên vào vị trí phải năng động, sáng tạo, chủ động hơn trong việc học tập, làm thay đổi tư duy, tác phong công nghiệp, tăng khả năng thích ứng, tiếp cận với khoa học công nghệ hiện đại hội nhập vào đời sống quốc tế…
    Ba là: tạo cơ hội để thanh niên Hậu Lộc đi ra nước ngoài công tác, lao động, học tập và du lịch ngày càng nhiều hơn, thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động giao lưu văn hoá và tri thức quốc tế trong thanh niên, tăng cường sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau và tình hữu nghị giữa thanh niên Hậu Lộc nói riêng, thanh niên Việt Nam nói chung với thanh niên các nước trên thế giới. Đặc biệt là những thành tựu của cuộc cách mạng tin học làm cho các luồng tư tưởng, các sản phẩm văn hoá được truyền bá nhanh chóng và rộng khắp mà thanh niên là đối tượng “nhạy cảm” nhất, tạo nên những mối quan hệ xã hội mới trong thanh niên, góp phần làm thay đổi định hướng giá trị của thanh niên theo hướng phù hợp với xu thế mới hiện nay.
    2.2.2. Những tác động tiêu cực của quá trình hội nhập quốc tế:
    Thứ nhất: Trong lĩnh vực kinh tế, cả nền kinh tế cũng như từng doanh nghiệp phải chịu sự ràng buộc của các quy tắc kinh tế, thương mại, tài chính tiền tệ, đầu tư chủ yếu do phương Tây áp đặt, chịu sức ép cạnh tranh bất bình đẳng của sự điều tiết vĩ mô bất hợp lý của các nước tư bản phát triển. Nếu nội lực doanh nghiệp không đủ mạnh sẽ dẫn tới tụt hậu, phá sản, tạo ra nguy cơ mất hoặc thu hẹp chỗ làm việc đối với thanh niên Hậu Lộc - lực lượng lao động chủ yếu hiện nay trong các thành phần kinh tế.
    Thứ hai: Chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ lợi dụng xu thế toàn cầu hóa ráo riết đẩy mạnh "chiến lược diễn biến hòa bình" chống các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, trong đó có Việt Nam. Ngoài ra tình hình Biển Đông cũng làm mối quan hệ hai nước láng giềng Việt Nam -Trung Quốc (cùng phe xã hội chủ nghĩa) đang diễn biến phức tạp. Các lực lượng thù địch đã ra sức truyền bá chủ nghĩa thực dụng thay thế giá trị nhân văn bằng giá trị đồng tiền. Từ đó tạo ra tâm lý phủ nhận truyền thống, phủ nhận thành tựu. Trong đó chúng đặc biệt chú trọng truyền bá chủ nghĩa thực dụng vào lớp trẻ. Chủ nghĩa thực dụng của chúng truyền bá vào thanh niên trong đó có thanh niên Hậu Lộc được đặc trưng bởi những nét sau:
    - Thay thế cuộc sống có lý tưởng bằng cuộc sống vì lợi ích trước mắt.
    - Phủ định truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc, du nhập những giá trị của Mỹ và phương Tây với những nét nổi bật là tự do cá nhân đề cao chủ nghĩa cá nhân.
    - Nhấn mạnh giá trị đồng tiền thay thế cho giá trị nhân bản, tất cả nhìn vào tiền, sùng bái đồng tiền, mong muốn đời sống vật chất vượt quá mức khả năng kinh tế của đất nước.
    Để thực hiện âm mưu đó chúng rất coi trọng sử dụng hệ thống thông tin đại chúng khổng lồ mà chúng có ưu thế về mặt kỹ thuật và kinh tế. Lợi dụng quá trình "mở cửa" hội nhập quốc tế, các thế lực thù địch đã đưa vào Hậu Lộc hằng ngày một khối lượng lớn sách báo, văn hóa phẩm có nội dung độc hại qua nhiều con đường như Bưu điện, các nhà buôn lái, các doanh nghiệp, Việt kiều về thăm quê hương, gửi kèm các kiện hàng hóa, gửi qua hệ thống fax, Internet. 
    Thứ ba: nước ta sau gần 100 năm nô lệ thuộc Pháp, kế đó là mấy chục năm dốc sức chiến đấu chống ngoại xâm, chưa kể phải thường xuyên chống trả thiên tai khắc nghiệt, bước vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá trăm thứ bộn bề, chưa đủ thời gian để nghiên cứu đầy đủ, toàn diện và triển khai giáo dục sâu rộng các tầng lớp thanh niên về văn hoá Việt Nam và văn văn hoá của người thanh niên Việt Nam nói riêng. Tác động của cơ chế thị trường đối với văn hoá thể hiện rõ nét nhất qua quá trình thương mại hoá văn hoá. Thực chất thương mại hoá văn hoá không phải là cái gì khác ngoài  việc định hướng đời sống văn hoá vào những nhu cầu trước mắt của con người. Những nhu cầu này được đáp ứng bằng khả năng chi trả bằng tiền. Văn hoá đại chúng được du nhập vào nước ta đã nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường toàn quốc và thâm nhập vào mọi giai tầng xã hội. Nó dễ thích ứng với đông đảo quần chúng có trình độ giáo dục thấp và lứa tuổi Thanh thiếu niên dễ đi theo trào lưu và tìm kiếm cái thời thượng. Những biểu hiện tiêu cực dễ nhận thấy nhất ở họ là:
    - Lợi dụng các hoạt động kinh tế đối ngoại, du lịch quốc tế và thông qua công nghệ truyền thông nhất là qua Internet các giá trị văn hóa Mỹ, văn hóa phương Tây phổ biến tràn lan hướng vào thanh niên trong đó có thanh niên Hậu Lộc nhằm làm tha hóa thế hệ trẻ bằng "âm nhạc Mỹ, văn hóa Mỹ, lối sống Mỹ..." nhằm tạo ra một thế hệ mất gốc, phủ nhận các giá trị truyền thống dân tộc, đua đòi ăn chơi, hưởng thụ... Thị hiếu thưởng thức kết quả văn hoá tinh thần của nhiều thanh niên thay đổi theo chiều hướng “sính ngoại”. Từ việc nghe, xem phim, ca hát, các hình thức ca cải lương, chèo, tuồng, hò vè chỉ thu hút được sự quan tâm của 35% thanh niên. Một con số quá ít có thể giúp ích cho việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc. Trong khi đó phim ảnh quốc tế lại chiếm được sự ham mê của tới 47% thanh niên. Về trang phục, sự phát triển về kinh tế, văn hoá, xã hội, xu hướng công nghiệp hoá và giao lưu trong ngoài nước hiện nay đã làm thay đổi lớn nhu cầu, thị hiếu trang phục của thanh niên. Những trang phục truyền thống đã trở nên thiếu hấp dẫn đối với thanh niên. Họ trở nên yêu thích những trang phục được xem là mốt, hợp thời trang. Như vậy, sự tác động về văn hoá trong thị hiếu thẩm mỹ của thanh niên diễn ra theo chiều hướng đan xen giữa tích cực và tiêu cực. Việc tiếp thu sản phẩm văn hoá hiện đại nước ngoài tạo ra một diện mạo mới trong đời sống xã hội và có sự phù hợp nhất định trong giao lưu giữa các dân tộc trong quá trình hội nhập, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống. Nhưng ít nhiều những thay đổi đó làm cho bản sắc văn hoá trong thị hiếu thẩm mỹ có phần bị mai một, có khi đã ở mức nguy cơ báo động.
    Khi xã hội ngày càng phát triển kéo theo nhu cầu của con người ngày cao. Đặc biệt Hậu Lộc là huyện có tuyến Quốc lộ 1A, Quốc lộ 10 chạy qua, đa dạng về các loại hình kinh tế, du lịch tâm linh đang ngày càng phát triển, số lượng tàu thuyền và người tham gia đánh bắt trên Biển Đông lớn, vì vậy sẽ có điều kiện bị chịu tác động từ những luồng văn hóa mới từ bên ngoài. Trong đó có những giá trị văn hoá cần trân trọng học hỏi, nhưng cũng dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội nảy sinh như: ma tuý, mãi dâm, trộm cướp… xa dời các giá trị truyền thống dân tộc. Một bộ phận thanh niên sa vào trạng thái cực đoan trong nhận thức và hành động, dẫn đến những hành vi lệch chuẩn, biểu hiện rõ nhất là số thanh niên mắc vào các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, cờ bạc, vi phạm pháp luật ngày càng gia tăng, diễn biến phức tạp. Toàn huyện hiện có trên 200 người nghiện ma túy được phát hiện có danh sách quản lý của cơ quan chức năng, trong đó trên 90% là thanh thiếu niên. Thực trạng này do nhiều nguyên nhân nhưng trong đó có nguyên nhân cơ bản là do mặt trái của hội nhập, của cơ chế thị trường tác động đến lớp trẻ.
    Như vậy, thực chất của những tác động tiêu cực của quá trình hội nhập quốc tế tới thanh niên Hậu Lộc, đó là: các thế lực thù địch đang thực hiện "âm mưu diễn biến hòa bình" trong thanh niên, đánh vào lý tưởng cách mạng, niềm tin, lối sống đạo đức làm thay đổi nhân sinh quan, thế giới quan khoa học cách mạng của thanh niên. Phân tích làm rõ những tác động tích cực và tiêu cực trong qúa trình chủ động hội nhập quốc tế của toàn huyện tới thanh niên là cơ sở để xác định những mục tiêu, nội dung hình thức và biện pháp giáo dục thanh niên giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc là việc làm hết sức cần thiết và quan trọng trong điều kiện hiện nay ở huyện Hậu Lộc.
    2.3. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC THANH NIÊN HẬU LỘC VỚI VẤN ĐỀ GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2007 ĐẾN NAY.
    Ở phần này, trong khuôn khổ của luận văn chỉ tập trung đi sâu xem xét thực trạng công tác giáo dục thanh niên giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc ở Hậu Lộc dưới các góc độ của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là chủ yếu.
    2.3.1. Những thành tựu cơ bản của công tác thanh niên và giáo dục thanh niên trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc ở huyện Hậu Lộc trong thời gian qua:
    Trong vài năm trở lại đây, cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội, Nghị quyết Trung ương 5 - khoá VIII của Đảng về “Xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” đã thổi một luồng sinh khí mới, làm cho đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân Hậu Lộc nói chung, của thanh niên Hậu Lộc nói riêng có bước chuyển biến tích cực, nhu cầu và mức hưởng thụ văn hoá của người dân được nâng lên đáng kể. Người dân Hậu Lộc có tinh thần yêu nước nồng nàn, có truyền thống cách mạng, có truyền thống yêu văn hoá nghệ thuật. Phong trào xây dựng các đội văn nghệ quần chúng, xây dựng gia đình văn hoá phát triển mạnh, cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” được hưởng ứng nhiệt liệt, tạo thành phong trào thi đua sôi nổi giữa các xã, thị trấn, các cơ quan, trường học trên địa bàn huyện.
    Quán triệt đường lối và những tinh thần trong các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh đã triển khai chỉ đạo công tác tư tưởng văn hoá trong hệ thống Đoàn từ huyện tới cơ sở. Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ X đã xác định “Đẩy mạnh giáo dục lối sống, xây dựng nếp sống văn hoá cho thanh niên, góp phần hình thành thế hệ thanh niên sống có văn hoá, yêu lao động, giàu lòng nhân ái, tích cực tham gia thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”.
    Từ khi có Chỉ thị số 19 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa, Chương trình hành động số 53 của Ban chấp hành Đảng bộ huyện Hậu Lộc về “ Đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Đoàn và phong trào thanh niên trong thời kỳ mới”,  Đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện Hậu Lộc đã tăng cường vai trò, từng bước đổi mới nâng cao chất lượng công tác giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên, đảm bảo thực hiện đúng chức năng của mình là trường học xã hội chủ nghĩa của thanh niên. Điều đó được thể hiện qua những hoạt động của Đoàn thanh niên toàn huyện thu được một số kết quả như sau:
    *Tổ chức các hoạt động định hướng, giáo dục nếp sống văn hoá cho thanh niên:
    Đoàn thực hiện nhiệm vụ định hướng các giá trị xã hội chủ nghĩa cho thanh niên trong cơ chế thị trường nhằm xây dựng nhân cách xã hội chủ nghĩa cho thanh niên trên cơ sở các phẩm chất truyền thống của con người Việt Nam. Xây dựng lớp thanh niên giàu lòng yêu nước, có lối sống đẹp, có lý tưởng cách mạng, có bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam. Trong giai đoạn mới, nhiệm vụ quan trọng của Đoàn là xây dựng lớp thanh niên giàu lòng yêu nước, có ý thức cộng đồng, biết xử lý hài hoà lợi ích của bản thân trong lợi ích chung của tập thể, cộng đồng; có lý tưởng cách mạng và bản lĩnh chính trị vững vàng; có tri thức, chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng lao động giỏi; có văn hóa và sống tình nghĩa; có sức khỏe thể chất và tinh thần lành mạnh; giàu nhiệt huyết sáng tạo và tinh thần tình nguyện. Nổi bật trong thời gian qua là việc tổ chức các diễn đàn thanh niên "Tiếp lửa truyền thống, mãi mãi tuổi 20", "Tuổi trẻ sống đẹp, sống có ích". Tổ chức nhiều cuộc thi tìm hiểu như cuộc thi tìm hiểu “ Bác Hồ với Thanh Hóa- Thanh Hóa làm theo lời Bác Hồ dạy” nhân kỷ niệm 60 năm lần đầu tiên Bác Hồ về thăm Thanh Hóa, cuộc thi tìm hiểu “ Thăng Long Hà Nội nghìn năm văn hiến và anh hùng”, “ 50 huyền thoại đường Hồ Chí Minh trên Biển”, “ Tìm hiểu 70 thành lập Đảng bộ Huyện”,…Tổ chức hội thi “ Tuyên truyền ca khúc cách mạng”, “ Tuổi trẻ Hậu Lộc tiến bước dưới lá cờ vẻ vang của Đảng”,… bằng hình thức sân khấu hóa. Tổ chức hội trại hè thanh thiếu nhi hằng năm đã thu hút hàng triệu lượt người tham gia. Tổ chức trang trọng lễ “ Thắp nến tri ân” các anh hùng liệt sỹ tại các nghĩa trang nhân ky niệm ngày 27/7 hằng năm. Triển khai thực hiện có hiệu quả cuộc vận động “Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác”, thiết thực thực hiện cuộc vận động chính trị lớn trong toàn Đảng, toàn dân “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
    Từ năm 2007 đến nay, các cơ sở Đoàn trên địa bàn toàn huyện đã chủ động tổ chức 184 lớp học chuyên đề về tư tưởng Hồ Chí Minh với trên 23.200 lượt đoàn viên, thanh niên tham gia, tổ chức trên 200 buổi cho trên 25.000 lượt đoàn viên, thanh, thiếu nhi đọc các tác phẩm, các bài viết, bài nói của Bác; tổ chức cho hơn 13.000 đoàn viên, thanh, thiếu nhi xem bộ phim “Hồ Chí Minh- chân dung một con người”, “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông”; Các chi đoàn thuộc khối lực lượng vũ trang xây dựng và duy trì tốt hoạt động của “Phòng đọc Hồ Chí Minh”; 58/58 Liên đội xây dựng được “Tủ sách thiếu nhi”, 47/58 liên đội xây dựng cuốn “Nhật ký thiếu nhi làm theo lời Bác”; toàn huyện đã xây dựng được 34 tủ sách “Tuổi trẻ làm theo lời Bác” với hơn 10.000 cuốn sách và tài liệu...
    Các cấp bộ Đoàn đã và đang triển khai các nội dung của cuộc vận động: xây dựng tình đoàn kết, tương thân tương ái với cộng đồng, chống bàng quan vị kỷ cá nhân; xây dựng tinh thần, thái độ học tập say mê, nghiêm túc, làm việc gì cũng phải học, học suốt đời, tiến quân vào khoa học công nghệ, chống tiêu cực, hư danh, giả dối, không trung thực; xây dựng tinh thần lao động cần cù, sáng tạo, chống ỷ lại, lười lao động; xây ý thức tiết kiệm, chống tham nhũng lãng phí xa hoa; Thói quen ứng xử văn hoá, chống lai căng tự do tuỳ tiện vô kỷ luật (gọi tắt là 5 xây, 5 chống) thành các tiêu chí cụ thể đối với danh hiệu “Thanh niên tiến tiến làm theo lời Bác, rèn luyện cán bộ, đoàn viên, thanh niên, tạo cho cán bộ, đoàn viên, thanh niên thói quen tự phê bình và phê bình trong tập thể, tự xây dựng kế hoạch tu dưỡng, rèn luyện theo tấm gương đạo đức của Bác Hồ trong cuộc sống hàng ngày. Phát triển các hình thức gặp gỡ, học tập những tập thể, cá nhân thanh niên tiên tiến làm theo lời Bác ở tất cả các cấp, các lĩnh vực, đối tượng.
    Từ huyện tới cơ sở đã tăng cường giáo dục truyền thống vẻ vang của quê hương, của dân tộc, của Đảng, của Đoàn, truyền thống đoàn kết, ý chí tự cường, tự tôn dân tộc, xây dựng khát vọng chiến thắng nghèo nàn lạc hậu, tinh thần xung kích, tình nguyện vì cộng đồng. Trong giáo dục đạo đức, lối sống, Đoàn đề cao giáo dục cho thanh niên lòng yêu lao động, chống thói lười biếng, lối sống thực dụng, xa hoa, tiêu dùng quá khả năng thu nhập của mình. Phát động đoàn viên, thanh niên đi đầu đấu tranh bài trừ các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, các văn hoá phẩm độc hại. Đoàn chủ động bồi dưỡng cho thanh niên các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, định hướng cho thanh niên tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, kịp thời định hướng, hướng dẫn thanh niên trước những loại hình nghệ thuật mới; thông tin trên Internet,...
    Tiếp tục đổi mới phương thức giáo dục luật pháp và ý thức cng đng cho thanh thiếu nhi, góp phần hình thành lối sống “Sống và làm việc theo pháp luật”, giúp cho thanh niên thực hiện tốt hơn quyền và nghĩa vụ công dân, đồng thời giáo dục, cổ vũ thanh niên gương mẫu chấp hành pháp luật, ý thức kỷ luật lao động, tôn trọng quy ước cộng đồng, tuân thủ nội quy, quy định của tổ chức. Tổ chức rộng rãi các hình thức tư vấn và trợ giúp pháp lý cho thanh niên, nhất là thanh niên nông thôn, thanh niên khu vực đô thị và các khu chế xuất, khu công nghiệp. Giáo dục ý thức quốc phòng toàn dân và tinh thần quốc tế chân chính, giúp cho mỗi thanh niên nhận thức rõ trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay, hiểu rõ bản chất các sự kiện và các quá trình quốc tế, xây dựng cho mình bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động, sáng tạo trong quá trình hội nhập. 
    Bên cạnh đó, từ năm 2007 đến nay, Ban Thường vụ Huyện Đoàn cũng gắn việc thực hiện Cuộc vận động với triển khai tổ chức các phong trào thi đua, hành động của tuổi trẻ. Phát động và triển khai có hiệu quả phong trào “Thanh niên tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng”. Toàn Đoàn đó giúp đỡ trên 200 lượt trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ em khuyết tật. Phân công các cơ sở Đoàn đỡ đầu thường xuyên 34 em, tổ chức 6 đợt khám chữa bệnh nhân đạo và phát thuốc miễn phí cho hơn 2.000 người dân với số tiền trên 120 triệu đồng; hỗ trợ giúp đỡ, tặng quà 480 gia đình thương binh liệt sĩ, gia đình chính sách với số tiền 83 triệu đồng,... Nét nổi bật trong công tác giáo dục truyền thống của Đoàn thời gian qua là việc triển khai chương trình “Mái ấm nghĩa tình” đã phối hợp với các doanh nghiệp tham gia tu sửa và làm mới 9 ngôi nhà cho gia đình có công với trị giá hơn 500 triệu đồng, cùng hơn 500 ngày công của đoàn viên, thanh niên. Đây là hoạt động có ý nghĩa giáo dục lòng biết ơn sâu sắc của thế hệ trẻ đối với thế hệ lớp trước. Các phong trào "Đền ơn đáp nghĩa", "Uống nước nhớ nguồn", triển khai cuộc vận động "Nghĩa tình biên giới hải đảo" tiếp tục được triển khai sâu rộng trở thành hoạt động thường xuyên của tuổi trẻ toàn huyện thể hiện ý thức, trách nhiệm của tuổi trẻ cùng với các cấp, các ngành và toàn xã hội chăm lo cho các gia đình thương binh liệt sỹ. Hoạt động đã có tác động tích cực tới niềm tự  hào dân tộc, lòng tri ân của thế hệ trẻ đối với thế hệ cha anh.  
    Bên cạnh việc tiếp tục tổ chức các hoạt động giáo dục mang tính truyền thống như: các hoạt động thể thao, văn hoá, gặp mặt, mít tinh, kỷ niệm gắn với các ngày lễ, ngày kỷ niệm lớn... các cấp bộ Đoàn - Hội đặc biệt quan tâm tổ chức các hoạt động giáo dục mang tính chuyên đề, có chiều sâu và hiệu quả thiết thực, có sự đổi mới về hình thức, nội dung tuyên truyền. Từ nhiều năm nay, các cấp bộ Đoàn toàn huyện thường xuyên phối hợp với các phòng, ban, ngành địa phương tổ chức nhiều lễ hội văn hoá, các ngày văn hoá dân tộc như Lễ hội Cầu Ngư ( Ngư Lộc), lễ hội Đền Bà Triệu ( Triệu Lộc),…Đồng thời tổ chức các hoạt động văn nghệ - thể thao truyền thống như Hội diễn văn nghệ quần chúng, Hội thi tuyên truyền các ca khúc cách mạng, giải đua thuyền truyền thống, giải đấu vật, giải chạy việt dã truyền thống, giải kéo co, bóng đá, bóng chuyền,… Hoạt động văn hoá văn nghệ, thể thao truyền thống đã trở thành điều không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt của thanh thiếu nhi. Đặc biệt là trong các dịp lễ tết, dịp hè và các dịp vui khác.
    Đoàn Thanh niên các cấp đã tuyên truyền, vận động thanh thiếu niên tích cực tham gia phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” với nhiều mô hình như “Đoàn cơ sở không ma tuý”, “Câu lạc bộ gia đình trẻ”… Thực hiện chỉ thị 27/CT -TƯ của Bộ Chính trị và Chỉ thị 14/1998-TTg của Thủ tưởng Chính phủ “Về nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội” đã được tổ chức Đoàn cụ thể hoá tới đoàn viên thanh niên bằng cuộc vận động “Cưới văn minh, lành mạnh, tiết kiệm” mang truyền thống đạo lý dân tộc và nghĩa cử cao đẹp. Mô hình phòng cưới văn hóa thanh niên tại xã Ngư Lộc là một cách làm điển hình toàn quốc, mỗi năm phòng cưới thu hút trên 100 vợ chồng trẻ đăng ký, mỗi đám cưới chỉ phải tốn 870.000 đồng. Ngoài ra phòng cưới thanh niên lưu động tại Triệu Lộc cũng đã giúp nhiều thanh niên, gia đình khó khăn tổ chức vui vẻ, tiết kiệm. Hoạt động của các Đội Thanh niên tình nguyện, Đội thanh niên xung kích đảm bảo an toàn giao thông, bảo vệ môi trường, đoạn đường thanh niên tự quản, cổng trường tự quản đã thu hút hàng nghìn thanh niên tham gia, từ đó đã khơi dậy tinh thần vì cuộc sống cộng đồng của thanh niên. Đặc biệt Câu lạc bộ “ Vì màu xanh rừng ngập mặn” tại xã Đa Lộc là mô hình hoạt động có hiệu quả. Qua 5 năm hoạt động, Câu lạc bộ đã trồng và bảo vệ được trên 10 ha rừng ngập mặn, thường xuyên có những hoạt động dọn vệ sinh môi trường ven biển. Ngoài ra các phong trào “bắt ốc bưu vàng hại lúa”, “tham gia thủy lợi mùa khô”, “ phong trào “ngày chủ nhật xanh”, “em yêu đường sắt quê em”,… luôn được duy trì và mang lại hiệu quả thiết thực. Thông qua các hoạt động này đã xuất hiện nhiều tập thể, nhiều cá nhân tiêu biểu được tôn vinh.
    * Thông qua các thiết chế văn hoá, hệ thống thông tin đại chúng tác động tới việc hình thành lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ:
    Ở huyện Hậu Lộc hiện nay, các thiết chế văn hoá được quan tâm đầu tư xây dựng như Nhà văn hoá xã, thư viện, điểm bưu điện văn hoá xã (có 27 điểm). Hiện nay trong toàn huyện có 1 Sân vận động lớn và 24 sân vận động có quy mô vừa, 1 bể bơi nước ngọt, 25 sân cầu lông đạt chuẩn, 1 sân tenis, 8 sân trượt băng nghệ thuật, 1 Nhà văn hóa huyện và công viên trung tâm. Đây là những nơi diễn ra nhiều hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao thu hút ngày càng đông Thanh thiếu nhi đến tham gia sinh hoạt, giao lưu, tìm hiểu nâng cao kiến thức. Ngoài ra, thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới, bằng sự quyết tâm của nhiều thôn, làng, nhân dân đã xây dựng mới được 46 nhà văn hóa thôn đạt chuẩn trị giá từ 300 triệu đồng đến 1 tỷ đồng trở lên. Đây cũng là nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng của các khu dân cư thu hút nhân dân và thanh thiếu nhi tham gia.
     Diện phủ sóng của đài truyền thanh được mở rộng, phủ sóng tới 27/27 xã, thị trấn. Cùng với chương trình mục tiêu quốc gia về phát thanh, đến nay trên 90% dân số được nghe đài phát thanh. Đặc biệt 27/27 xã phường đều có báo: báo Nhân Dân, báo Thanh Hóa, Thông tin nội bộ,… Ngoài ra còn có các bản tin của các ngành, đoàn thể ra định kỳ hàng tháng hoặc quý...
    Công tác tuyên truyền của Đoàn tiếp tục có sự chuyển biến tích cực và được phát triển sâu rộng trên các loại hình tuyên truyền. Ở cấp huyện, duy trì các chương trình phát thanh thanh niên theo định kỳ 2 lần/ tuần. Các cấp bộ Đoàn - Hội trong toàn huyện đặc biệt quan tâm đến công tác cán bộ làm công tác tuyên truyền thông qua việc củng cố lực lượng báo cáo viên, tuyên truyền viên nhằm nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền của Đoàn. Toàn huyện hiện có 37 báo cáo viên và 575 tuyên truyền viên. Hiện nay trong hệ thống tổ chức Đoàn, Đoàn thanh niên có 14  đội văn nghệ được lấy tên là đội tuyên  truyền ca khúc cách mạng (viết tắt là TCM).
    Với những nỗ lực đó trong thời gian qua, công tác giáo dục thanh niên giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc ở huyện Hậu Lộc trong quá trình hội nhập đã và đang có tác động tích cực tới đời sống văn hoá, nếp sống văn hoá của thanh niên, có thể nêu mấy điểm cơ bản là:
    Đời sống văn hoá thanh niên ở Hậu Lộc hiện nay chịu nhiều tác động, tuy ở những vùng khác nhau, cấp độ tác động có khác nhau, tạo nên những chuyển biến khá tích cực, nhưng cũng đặt thanh niên trước nhiều vấn đề rất đáng quan tâm. Đó là các tác động của cuộc vận động “Toàn dân toàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, của nền kinh tế thị trường; tác động của các luồng thông tin, văn hoá đang đến với thanh niên ngày càng nhiều, của giá trị văn hoá truyền thống, các phong tục và mối quan hệ dòng tộc, họ tộc và những luật tục. Dưới những tác động đó, đặc biệt là tác động của các điều kiện mới (Kinh tế thị trường, mở rộng giao lưu và những luồng văn hoá mới), nhận thức tư tưởng, đời sống văn hoá tinh thần của thanh niên có những chuyển biến trong quá trình hình thành các giá trị nhân cách mới.
    Qua kết quả điều tra thăm dò ý kiến trong 100 thanh niên thuộc các đối tượng: nông thôn, công nhân - viên chức, học sinh, lực lượng vũ trang và các đối tượng khác cho thấy
    1. Mong muốn thường xuyên được giao lưu, sinh hoạt VHVN:  94%
    2. Mong muốn được học tập, nâng cao trình độ:                        97%
    3. Các sản phẩm văn hoá, văn nghệ thanh niên yêu thích:
    - Về đề tài cách mạng:                                                               79%
    - Trang phục dân tộc:                                                                46%
    - Các mốt thời trang hiện đại:                                                     62%
    - Nhạc, phim ảnh  quốc tế:                                                         47%
    - Cải lương, vọng cổ, tuồng, chèo, dân ca, hò, vè:                      35%
    4. Quan niệm  trong ứng xử văn hoá:
    - Tắt lửa tối đèn có nhau:                                                           91%
    - Yêu là đi tới hôn nhân:                                                             82%
    5. Tham gia các hoạt động văn hoá, xã hội vui chơi, giải trí:

    Thường xuyên
    Đôi khi
    Chưa bao giờ
    Hoạt động do Đoàn, Hội tổ chức:
    47,6%
    25%
    27,4%
    Thăm các khu di tích lịch sử văn hoá, bảo tàng cách mạng:
    38%
    47%
    15%
    Đi quán “chát”:
    29%
    37%
    34%
    Đi sàn nhảy:
    4%
    16%
    80%
           6. Thái độ với các hành vi tiêu cực (Nghiện ma tuý, đua xe, mua bán dâm, không coi trọng các khuôn phép ứng xử xã hội…):
    - Phản đối quyết liệt:                            51%
    - Thông cảm, khuyên bảo:                   30%
    - Không tỏ thái độ gì:                          19%
    7. Thái độ về tương lai đất nước:
    - Lo lắng, chưa lạc quan:                      40%
    - Lạc quan về tương lai đất nước:         60%.
    Từ kết quả thăm dò trên, có thể đưa ra một số nhận xét cơ bản sau đây về mặt tích cực của nhu cầu và thực trạng đời sống văn hoá của thanh niên hiện nay:
    Một là: Sinh hoạt văn hoá văn nghệ, gặp gỡ giao lưu là nhu cầu thiết yếu trong đời sống văn hoá  thanh niên hiện nay. Vì vậy, tổ chức hoạt động văn hoá, văn nghệ, sinh hoạt cộng đồng,… là cách tốt nhất để thu hút, tập hợp và qua đó làm công tác giao dục thanh niên. Thực tế cũng đã chứng tỏ, ở đâu có phong trào văn hoá văn nghệ thu hút được thanh niên tham gia thì ở đó hạn chế được việc thanh niên mắc vào tệ nạn xã hội.
    Hai là: Thanh niên có nhu cầu học tập, nâng cao kiến thức (cả về văn hoá, khoa học kỹ thuật), nhất là kinh nghiệm, kỹ thuật phục vụ sản xuất, giúp họ vươn lên xóa đói giảm nghèo. Khác hẳn với trước đây, phải vận động rất nhiều người dân mới đi học. Hiện nay, do nhu cầu học tập, nhiều gia đình có kinh tế đã đưa con em mình đi học ở các trung tâm giáo dục chất lượng cao hoặc cho đi du học ở nước ngoài. Phong trào học tập, khuyến học, khuyến tài, phong trào xây dựng xã hội học tập đã được quan tâm và chất lượng nâng lên đáng kể. Từ đó, trình độ văn hoá của thanh niên tăng lên rõ rệt. Phong trào “Thanh niên tình nguyện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” với các chương trình, dự án kinh tế-xã hội của huyện nói chung, của Đoàn nói riêng được thanh niên đặc biệt quan tâm và hưởng ứng. Các câu lạc bộ khuyến nông, khuyến lâm, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, các điểm  bưu điện văn hoá xã, các tủ  sách của Trung tâm thư viện huyện, các trung tâm học tập cộng đồng, các điểm bưu điện văn hóa đã thu hút đông đảo thanh niên đến tham gia sinh hoạt và đọc sách.
    Trong cơ chế mới, nhiều thanh niên đã thực sự năng động, có ý chí tiến thủ, đi đầu trong phong trào lao động sản xuất, ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ mới, làm giàu cho bản thân, gia đình và đóng góp cho xã hội. Với phương trâm “ mỗi cơ sở Đoàn có công trình, mỗi thanh niên có phần việc”, trong thời gian qua đã có 91 công trình, phần việc thanh niên làm lợi cho địa phương hàng trăm triệu đồng; các mô hình thành niên giúp nhau làm kinh tế, nhanh chóng áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi, sản xuất. Đặc biệt đã xuất hiện thêm hơn 20 trang trại với vốn đầu tư trên 1 tỷ đồng, các mô hình trồng các cây có năng xuất cao đã được trồng đạt hiệu quả như vật thổ, cây ngô ngọt, hạt tiêu, dưa bao tử,... Nhờ đó các hoạt động của Đoàn, Hội Liên hiệp thanh niên ngày càng giàu tính thiết thực, phù hợp với nhu cầu và yêu cầu của thanh niên. Cùng với tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, giao lưu, học tập, các tổ chức thanh niên còn đứng ra tín chấp, vay vốn, hướng dẫn thanh niên làm ăn, vươn lên xoá đói giảm nghèo, giúp thanh niên tự tin hơn, vượt qua những khó khăn trong cuộc sống. Cũng nhờ các hoạt động này, các tổ chức Đoàn triển khai công tác tuyên truyền, giáo dục thanh niên về các chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước, về nếp sống văn hoá, về đạo đức, lối sống, phát huy tính tích cực trong thanh niên, hạn chế, ngăn chặn các tiêu cực về tệ nạn xã hội. Các hoạt động giàu tính cộng đồng này đã góp phần quan trọng tăng cường sự đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau trong thanh niên các dân tộc. Đã có nhiều mô hình thanh niên làm kinh tế giỏi, xây dựng gia đình no ấm, hạnh phúc.
    Ba là: Giá trị đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống vẫn là những giá trị đạo đức cốt lõi của nhân cách con người Việt Nam được thanh niên giữ gìn và phát huy. Phần lớn thanh niên có thái độ cương quyết trước những biểu hiện đi ngược lại với giá trị truyền thống đạo đức dân tộc. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, dân tộc Việt Nam đã rèn đúc, tôi luyện cho mình nhiều phẩm chất tốt đẹp. Đó là năng lực tự chủ, sáng tạo trong chống giặc ngoại xâm; sự hình thành một hệ giá trị cốt lõi của văn hoá dân tộc với tinh thần yêu nước, ý chí tự lực tự cường, tinh thần đoàn kết, ý thức cố kết cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, sự khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý, lấy nhân nghiã làm gốc; trách nhiệm của cá nhân đối với cộng đồng làm trọng, cần cù, khiêm tốn, giản dị trong lối sống. Ngày nay, bên cạnh những đức tính mới do yêu cầu của thời đại thanh niên Hậu Lộc vẫn giữ được những đức tính truyền thống cao quý đó, thể hiện ở kết quả thăm dò từ 100 đoàn viên thanh niên: 85% thanh niên quan tâm tới thăm di tích lịch sử, văn hoá; 30% thanh niên biết thông cảm, chia sẻ và động viên khuyên bảo những người mắc vào các tệ nạn xã hội; 91% thanh niên quan niệm con người trong cộng đồng phải yêu thương giúp đỡ nhau; 82% thanh niên quan niệm yêu là đi tới hôn nhân; 79% thanh niên thích thưởng thức các sản phẩm văn hoá đề tài cách mạng và 60% thanh niên lạc quan tin tưởng vào tương lai của đất nước.
    2.3.2. Những hạn chế, yếu kém:
           Thứ nhất, xét trên mặt số lượng, các hoạt động định hướng, giáo dục thanh niên giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trên địa bàn huyện còn đạt rất thấp.
    Thứ hai, việc xây dựng một môi trường văn hoá thuận lợi cho việc giáo dục, truyền thụ các giá trị văn hoá truyền thống cho thanh niên hiện nay còn nhiều điều đáng bàn. Hầu hết các gia đình được được phỏng vấn đều phàn nàn về sự quan tâm chưa đầy đủ của chính quyền, đoàn thể, cộng đồng đến việc tổ chức, hướng dẫn thanh niên tham gia sinh hoạt văn hoá lành mạnh. Sự hạn chế về các tụ điểm sinh hoạt văn hoá (hiện nay toàn huyện chưa có nhà văn hóa thanh niên, chưa có cung văn hóa thanh thiếu niên); sự đơn điệu về hình thức sinh hoạt đang là những trở lực to lớn đối với việc truyền dạy văn hoá dân tộc cho thanh niên. Nhu cầu vui chơi giải trí của thanh niên hiện nay là rất lớn. Điều này có sự tác động của quá trình hội nhập, tiếp xúc giao lưu văn hoá rộng rãi. Nếu như trước kia thanh niên chỉ biết đến những hình thức vui chơi giải trí dân gian truyền thống thì nay nhiều trò chơi nước ngoài đã du nhập và trở thành phổ biến ở nước ta (dancing, game oline…). Chỉ với một vài thiết chế văn hoá giản đơn, rõ ràng chúng ta đã không làm thoả mãn nhu cầu của họ, càng không nâng cao được việc giáo dục truyền thụ các giá trị văn hoá truyền thống.
    Thứ ba, một mặt, chúng ta chủ trương xây dựng nền văn hoá nước ta là “nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” và đã có nhiều chính sách nhằm thực thi chủ trương này, song bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước về văn hoá nhiều lúc, nhiều nơi còn lỏng lẻo, sự buông lỏng quản lý thị trường về văn hoá đã dẫn đến tình trạng lưu hành trôi nổi, các loại hình văn hoá, nghệ thuật phi truyền thống, phi nhân văn bằng các con đường vào nước ta, tác động xấu tới thanh niên làm phai nhạt các giá trị văn hoá truyền thống.
    Thứ tư, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng để giáo dục thanh niên giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong quá trình hội nhập, đứng trên góc độ hiệu quả còn bộc lộ một số mặt yếu kém sau đây:
    - Mặc dù số lượng sách, báo phát hành khá lớn, song nhiều thanh niên nhất là ở vùng có đời sống kinh tế khó khăn, xa khu trung tâm vẫn chưa có sách báo để đọc vì không có đủ tiền để mua.
    - Chất lượng tin, bài, phóng sự, thậm chí cả các chương trình nghệ thuật, phim truyện trên truyền hình còn đơn điệu, trình độ nghệ thuật thấp, chưa hấp dẫn và có sức thuyết phục thanh niên.
    - Thiếu định hướng tư tưởng trước một số hiện tượng tiêu cực xảy ra trong thanh niên mà lại lệch theo hướng đưa tin "một chiều" giật gân vì mục đích thương mại.
    Thứ năm: ở Hậu Lộc, mặc dù chất lượng giáo dục mũi nhọn ngày một nâng cao, giáo dục toàn diện được quan tâm nhiều hơn. Tuy nhiên, chất lượng giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức trong hệ thống trường phổ thông chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tế. Điều đó thể hiện ở chất lượng các sách giáo khoa, giáo trình các môn học giáo dục công dân chưa thực sự được coi trọng, thể hiện rõ nhất là: chất lượng đội ngũ giáo viên vừa thiếu vừa bất cập; phương pháp giảng dạy các môn học này chưa phù hợp với xu thế hiện nay nhưng lại chậm được đổi mới, khắc phục.
    2.3.3. Phân tích nguyên nhân và rút ra những bài học kinh nghiệm:
    * Nguyên nhân của những thành tựu:
    Cùng với các cấp, các ngành và các đoàn thể, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện Hậu Lộc đã quán triệt quan điểm xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân. Từ đó làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng, ý thức gìn giữ truyền thống quý báu của dân tộc.
    Huyện ủy, Ủy ban nhân dân Huyện đã có nhiều quan tâm hơn cho các hoạt động của Đoàn thanh niên như quan tâm chỉ đạo, tạo nguồn kinh phí tổ chức các hoạt động trại hè truyền thống, các giải thi đấu thể dục thể thao, các cuộc thi văn nghệ quần chúng, tiếng hát thanh niên,… Huyện đã chú ý bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, quan điểm sáng tạo cho cán bộ văn hoá trẻ tuổi.  Tổ chức Đoàn các cấp đã xây dựng được đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên gắn bó sâu sắc với sự nghiệp cách mạng cao đẹp của Đảng.
    Tổ chức các phong trào, mô hình hoạt động văn hoá đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng giao lưu, học hỏi chính đáng của thanh niên. Tạo ra môi trường để thanh niên lĩnh hội, tiếp thu những nét văn hoá đẹp du nhập từ nước ngoài đồng thời giúp thanh niên nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của những giá trị văn hoá mang bản sắc dân tộc đối với việc hình thành nhân cách con người mới XHCN trong quá trình giao lưu, hội nhập quốc tế.
    * Nguyên nhân của hạn chế:
    Lý giải thực trạng này có nhiều nguyên nhân. Nhưng nguyên nhân cơ bản nhất năm ngay trong hệ thống giáo dục, từ các thể chế, chính sách của các chủ thể giáo dục, từ công tác quản lý Nhà nước đối với sự nghiệp văn hoá. Nếu xét thanh niên là đối tượng chính trong ý nghĩa là người tiếp thu, giữ gìn vốn văn hoá thì thấy rằng có mấy điểm  cần chú ý:
    + Nguyên nhân chủ quan:
    - Chúng ta chưa tìm ra phương thức sinh hoạt văn hoá dân gian trong cộng đồng đủ sức cuốn hút niềm say mê của thế hệ trẻ. Hay nói cách khác hoạt động của loại hình văn hoá này chưa được quan tâm đúng mức.
    - Công tác tuyên truyền, giáo dục về các giá trị văn hoá dân gian truyền thống chưa ngang tầm, vị thế chưa khơi dậy được trong thanh niên niềm tự hào về các giá trị văn hoá của dân tộc mình.
    - Công tác đầu tư để khai thác kho tàng văn hoá còn lưu giữ trong các nghệ nhân để truyền dạy cho thế hệ thanh niên chưa được chúng ta chú ý đúng mức.
    - Đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng - văn hóa của Đoàn còn thiếu, yếu về chuyên môn, nghiệp vụ. Cán bộ Đoàn ở một số cơ sở còn thụ động trông chờ vào sự chỉ đạo hướng dẫn của cấp trên, còn xem nhẹ và chưa thực sự coi trọng chỉ đạo của tổ chức các nội dung của công tác này dẫn đến hiệu quả công tác giáo dục chưa cao.
    - Một số gia đình do tác động của nền kinh tế nên đã buông lỏng quản lý đoi với con em mình; các biên pháp giáo dục văn hóa từ văn hóa gia đình đang bị mai một do qua trình đô thị hóa, công nghiệp hóa.
    + Nguyên nhân khách quan:
    - Việc quản lý văn hoá của các cấp bộ ngành có trách nhiệm còn nhiều sơ hở đã không tạo ra được một cấu  trúc hợp lý của nền văn hoá Việt Nam xã hội chủ nghĩa tiên tiến, giàu bản sắc dân tộc. Các văn bản văn hoá của các cấp, các ngành tuy đã ra đời nhưng không đồng bộ.
    - Một bộ phận không ít thanh niên bị mất phương hướng trước những lai tạp của văn hoá từ bên ngoài đã dẫn đến có tâm lý đánh giá thấp di sản văn hoá của tổ tiên.
    - Cho đến nay, nhiều cấp uỷ vẫn còn cho rằng công tác thanh niên là nhiệm vụ riêng của tổ chức Đoàn. Bên cạnh đó, một số cấp uỷ “khoán trắng” công tác thanh niên cho Đoàn thanh niên hay cho một cấp uỷ viên. Công tác tuyên truyền giáo dục thanh niên giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc chưa được quan tâm đúng mức.
    Những nguyên nhân cơ bản nêu trên đặt ra yêu cầu cấp thiết cho những nhà nghiên cứu văn hoá dân tộc, các cơ quan chức năng về văn hoá và tổ chức Đoàn phải có giải pháp khả thi trong công tác sưu tầm, bảo tồn và phát triển vốn văn hoá dân gian vô giá này.
    * Bài học kinh nghiệm:
    Một là, tranh thủ nhiều hơn nữa sự chỉ đạo của các cấp ủy Đảng đối với công tác thanh niên và giáo dục thanh niên. Nâng cao nhận thức đến từng cán bộ, đảng viên, từng chi bộ, từng gia đình về trách nhiệm giáo dục thế hệ trẻ.
    Hai là, tăng cường đầu tư các thiết chế văn hóa đáp ứng nhu cầu vui chơi lành mạnh hơn cho thanh thiếu niên. Tăng cường quản lý Nhà nước đối với công tác thanh niên, quản Lý nhà nước đối với văn hóa, đặc biệt là thị trường văn hóa. Thu hút đầu tư có chọn lọc, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho thanh niên.
    Ba là, đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt là giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh trong các trường học. Tăng cường nâng cao kiến thức về ngoại ngữ, tin học để kịp thời đáp ứng nhu cầu hội nhập. Tạo môi trường thân thiện, lành mạnh cho thanh thiếu niên vừa học, vùa vui chơi.
    Bốn là, đổi mới nội dung, phương thức tổ chức các hoạt động văn hóa để thu hút nhiều hơn nữa thanh thiếu nhi tham gia hoạt động.
    Năm là, tích cực xây dựng đội ngũ cán bộ Đoàn – Hội, cán bộ văn hóa các cấp đảm bảo yêu cầu về trình độ văn hóa, có năng lực tổ chức thực hiện và kỹ năng hoạt động; có quan điểm chính trị và bản lĩnh vững vàng trong giai đoạn hội nhập.
    CHƯƠNG 3
    PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP  NÂNG CAO
    CHẤT LƯỢNG  GIÁO DỤC THANH NIÊN GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC Ở HẬU LỘC, THANH HÓA
    TRONG THỜI GIAN TỚI
    3.1. PHƯƠNG HƯỚNG CHUNG:
     Phát triển văn hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, kết hợp với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại là nội dung quan trọng. Cách tốt nhất để bảo tồn phát huy văn hoá truyền thống là chúng ta phải bảo tồn nó trong trạng thái phát triển, nhằm vừa giữ được bản sắc văn hoá dân tộc vừa phục vụ tốt sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, hội nhập vào thế giới. Việc giữ gìn bản sắc văn hoá không chỉ đơn thuần là lưu giữ lại, bảo tồn những sản phẩm văn hoá truyền thống vốn có từ bao đời, mà quan trọng hơn là tìm tòi, sáng tạo, theo kịp với đòi hỏi của người hưởng thụ, tạo nên lòng tự hào về những giá trị truyền thống của dân tộc trong lòng công chúng, nhất là thế hệ thanh niên. Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc không có nghĩa là kỳ thị, "đối lập" với các nền văn hóa khác mà thông qua hội nhập, giao lưu chúng ta sẵn sàng tiếp thu các yếu tố nhân bản, hợp lý, khoa học, tiến bộ của nền văn minh nhân loại. Đồng thời kiên quyết chống lại mọi sản phẩm phản văn hóa trong quá trình hội nhập xu thế toàn cầu hóa.
     Trong điều kiện hội nhập xu thế toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng như hiện nay, hơn lúc nào hết phải đề cao và coi trọng tinh thần tự lực, tự cường, giữ gìn và phát huy bản lĩnh và bản sắc dân tộc đang trở thành một yêu cầu cấp bách, để hội nhập mà không bị hòa tan, không tự đánh mất mình.
     Phải giải thoát thế hệ trẻ khỏi tâm lý vọng ngoại, chuộng ngoại, sùng ngoại. Phải làm cho thanh niên hiểu rằng, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc là một biểu hiện của lòng yêu nước. Tinh thần yêu nước là giá trị hàng đầu, là thước đo giá trị nhân phẩm của con người, là hằng số trong mỗi con người Việt Nam, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam từ thời các vua Hùng dựng nước đến nay. Cốt lõi của các giá trị văn hóa là hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
    Đảng ta xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Với tính cách là động lực của sự phát triển văn hóa khơi dậy và nhân lên mọi tiềm năng sáng tạo của con người, đặc biệt là thế hệ trẻ vì nói tới văn hóa là nói tới con người - nguồn lực quyết định nhất của sự phát triển. Cần giáo dục thanh niên giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII): “Bản sắc dân tộc Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước”. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - tổ quốc, lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống.  Biểu hiện cụ thể nhân cách là 5 đức tính cơ bản: Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nhĩa xã hội, có ý chí vươn lên, đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội; có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung; có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái; lao động chăm chỉ, với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo năng suất cao vì lợi ích của bản thân, tập thể, gia đình và xã hội; thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác tư tưởng lý luận trong tình hình mới, Đảng ta một lần nữa khẳng định: Những giá trị văn hóa tinh thần bền vững của dân tộc Việt Nam là lòng yêu nước nồng nàn, ý thức cộng sâu sắc, đạo lý "thương người như thể thương thân", đức tính cần cù, vượt khó, sáng tạo trong lao động...
              Bên cạnh đó, hướng thanh niên Hậu Lộc phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc, biểu hiện bằng việc hình thành những những phẩm chất của người lao động mới đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thời kỳ đẩy mạnh hội nhập xu thế toàn cầu hóa để công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Những phẩm chất ấy như: Ngoài sự cần cù, cần phải giỏi chuyên môn, thạo việc, sáng tạo; thẳng thắn, trung thực, giữ chữ tín; sống và làm việc theo pháp luật; quý trọng, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm trong tiêu dùng; có tư duy thực tế, tiếp cận khoa học-công nghệ mới; có kiến thức và kỹ năng giao tiếp xã hội; quan tâm đến năng suất, chất lượng, hiệu quả; chủ động tự giác, khiêm tốn, cầu tiến bộ, có bản lĩnh; có ý thức thi đua, hợp tác; có khả năng thích ứng nhanh với môi trường mới… Hay nói cách khác là người lao động có văn hoá kinh tế, văn hoá chính trị, văn hoá pháp luật, văn hoá đạo đức, văn hoá thẩm mỹ, văn hoá sinh thái, văn hoá tiêu dùng, văn hoá giao tiếp, văn hoá hoạt động tập thể....
    3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC THANH NIÊN TRONG VIỆC GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC DÂN TỘC TRONG THỜI GIAN TỚI:
    3.2.1. Tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho thanh niên:
    Cần nâng cao hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục cho thanh niên nhận thức một cách đầy đủ về công tác gìn giữ, phát triển các giá trị văn hoá truyền thống. Coi phát triển sự nghiệp văn hoá là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, coi đầu tư cho văn hoá là đầu tư cho con người và cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Khơi dậy trong thế hệ trẻ niềm đam  mê, lòng tự tôn, tự hào về văn hoá truyền thống của dân tộc mình.
     Giáo dục kết hợp với tự giáo dục. Các chủ thể giáo dục cần chú ý khích lệ, hướng dẫn, giúp đỡ, hỗ trợ để thanh niên tự nhận ra nhận ra các giá trị của văn hoá truyền thống, thường xuyên đối thoại với thanh niên, cùng tham gia hoạt động với thanh niên, mọi sự áp đặt, quy chụp, quy kết, khuôn sáo, khiễn cưỡng, cấm đoán, ép buộc trong giáo dục đều không mạng lại kết quả mong muốn.
    3.2.2. Đổi mới việc tổ chức các hoạt động của các tổ chức thanh niên, tạo môi trường cho thanh niên cống hiến và trưởng thành:
    * Giải pháp về hoạt động của tổ chức Đoàn- Hội:
    - Tăng cường hoạt động văn hoá trong các tổ chức thanh niên (Hội LHTN Việt Nam, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh), thông qua các hoạt động tạo ra sức cuốn hút thanh niên. Công tác giáo dục tư tưởng văn hoá trong lực lượng thanh niên mang đặc thù riêng, với tâm lý của tuổi trẻ là thích sôi nổi, không chịu gò bó, cứng nhắc. Do đó, xây dựng, củng cố tổ chức Đoàn có đủ bản lĩnh, có trí tuệ và thật sự là môi trường văn hoá trong sáng, lành mạnh bằng những phương thức linh hoạt để đủ sức tập hợp, thu hút thanh niên làm cho thanh niên tha thiết với sinh hoạt Đoàn.
    - Đoàn- Hội có nhiệm vụ tổ chức các hoạt động đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của thanh niên, thông qua đó định hướng, tuyên truyền, giáo dục giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc, khơi dậy niềm tự hào về một quá khứ hào hùng của quê hương, đất nước trong thanh niên và quan trọng là phải làm cho đoàn viên thanh niên thấy được sản phẩm văn hoá du nhập nào nên tiếp thu, sản phẩm văn hoá du nhập nào đi ngược lại với văn hoá, đạo đức dân tộc. Vấn đề này lâu nay được coi là khó khăn đối với tổ chức cơ sở Đoàn . Vì vậy, cần đầu tư nhiều hơn cho việc đổi mới các phương thức hoạt động giáo dục, có như thế thì chất lượng hiệu quả mới cao. Công tác tuyên truyền giáo dục của tổ chức cơ sở cần gắn với các này lễ lớn, bằng những cuộc vân động, các cuộc thi, các loại hình văn hoá, văn nghệ, tham quan dã ngoại, cắm trại, các hoạt động xã hội nhằm giáo dục truyền thống cách mạng, giáo dục lối sống, nếp sống văn hoá nâng cao ý thức bảo vệ, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá thế giới cho thanh niên, giáo dục an ninh quốc phòng, giáo dục về dân số - sức khoẻ - môi trường, giáo dục pháp luật. Lấy sinh hoạt văn hoá - văn nghệ làm “chất xúc tác” để thu hút và giáo dục thanh niên; cần tranh thủ các nghệ nhân, những người hiểu văn hoá truyền thống để khơi dựng lại những sinh hoạt văn hoá cộng đồng, phù hợp tâm lý, đặc điểm của thanh niên, có tính cố kết cộng đồng và tính giáo dục cao.
    - Xây dựng đội ngũ cán bộ Đoàn, Hội ở cơ sở có đủ khả năng tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền giáo dục. Đoàn phải xây dựng được đội ngũ hạt nhân, làm nòng cốt, phát triển mạnh hoạt động văn hoá - văn nghệ tại cơ sở, vừa phát huy tốt các di sản văn hoá truyền thống tốt đẹp, vừa tiếp thu có chọn lọc những giá trị văn hoá mới. Đào tạo hạt nhân văn nghệ, làm nòng cốt cho đội văn nghệ quần chúng; thành lập các đội văn nghệ xung kích gắn với thông tin tuyên truyền qua đó tập hợp lực lượng thanh niên, giúp họ xây dựng các hoạt động văn hoá ở cơ sở. 
    - Cần có nhiều hình thức tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể thao truyền thống, để đáp ứng nhu cầu rất lớn hiện nay trong thanh niên các dân tộc là được giao lưu, học hỏi, kết bạn, tạo mối quan hệ đoàn kết, gắn bó ngày càng vững chắc. Quan tâm mở rộng các hình thức sinh hoạt câu lạc bộ (câu lạc bộ gia đình trẻ, câu lạc bộ thanh niên giúp nhau làm giàu,…) để thu hút, tập hợp thanh niên, qua đó giúp thanh niên vươn lên trong cuộc sống. Định hướng, giáo dục thanh niên về nhận thức chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, bài trừ hủ tục lạc hậu, tăng cường tình đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong thanh niên. Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, động viên thanh niên tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của địa phương, cơ sở. Đặt thanh niên xứng đáng với vai trò và vị trí xung kích nhất là trên các lĩnh vực phát triển kinh tế, xây dựng đời sống văn hoá.
    Nâng cao trách nhiệm của các tổ chức đoàn thể trong việc giáo dục thanh niên  giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc phải gắn chặt với việc phát huy dân chủ, bảo đảm công bằng xã hội và giữ vững kỷ cương phép nước.
    3.2.3. Nâng cao năng lực quản lý nhà nước:
    Nâng cao năng lực quản lý nhà nước là một trong những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của sự nghiệp xây dựng, phát triển văn hoá - nghệ thuật, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người hưởng thụ, tham gia hoạt động sáng tạo văn hoá, ngăn chặn có hiệu quả những sản phẩm văn hoá - nghệ thuật độc hại, các tệ nạn xã hội xâm nhập vào đời sống xã hội, đặc biệt là đời sống thanh niên.
    Trước hết, phải nhận thức đầy đủ về một bối cảnh quốc tế mới sẽ có nhiều biến động. Đó là quá trình phát triển nhanh, mạnh và toàn cầu hoá trên mọi lĩnh vực. Một chân trời văn hoá tạo cho các cộng đồng xích lại gần nhau đang mở ra trước các dân tộc. Mặt khác là nguy cơ san bằng và đồng nhất hoá các hệ thống giá trị và tiêu chuẩn, đe doạ là suy kiệt khả năng sáng tạo của các nền văn hoá. Kinh tế thị trường trong xu thế toàn cầu hoá có xu hướng biến di sản văn hoá (vật thể và phi vật thể) thành hàng hoá, kể cả bản thân con người. Trong bối cảnh đó, cần phải tỉnh táo nhận thức về mình. Không ai có thể phải nhận được sức mạnh và giá trị trường tồn của bản sắc văn hoá Việt Nam nhưng nếu cứ tiếp diễn tình trạng một thời văn hoá nước ngoài ồ ạt xâm nhập bằng mọi con đường, chiếm  lĩnh thị hiếu của thanh niên thì nguy cơ bị đồng hoá văn hoá trong tương lai là điều có thể xảy ra. Nói như vậy không có nghĩa là “đóng cửa” mà cần kết hợp chặt chẽ việc tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại với đấu tranh chống lại sự xâm nhập của văn hoá độc hại. Đó là mối quan hệ giữa giữ gìn bản sắc với tiếp thu tinh hoa, giữa truyền thống, tiếp biến và đổi mới.
    Mặt khác, nếu cứ để tình trạng nghệ thuật bị thương mại hoá sẽ tạo ra một kiểu văn hoá thực dụng, Sự xuất hiện tràn lan các tác phẩm nghệ thuật rẻ tiền, chạy theo thị hiếu tầm thường, hoặc lai căng, xa lạ với đời sống hiện nay của nhân dân, nhất là với lớp trẻ, chắc chắn sẽ làm mất dần ý thức phát triển văn hoá dân tộc, và sẽ không còn lấy gì làm cơ sở để giao lưu văn hoá với các quốc gia khác nhau. Cho nên quản lý tốt văn hoá là góp phần đắc lực tạo được môi trường văn hoá lành mạnh trong thanh niên, hướng họ đi tới cái chân- thiện- mỹ, hướng đến các giá trị truyền thống của văn hoá dân tộc.
    3.2.4. Tăng cường các thiết chế văn hóa:
    Phải có những thiết chế văn hoá, phương tiện phục vụ để thanh niên có nơi sinh hoạt, giao lưu, trao đổi văn hoá lành mạnh. Trong thời gian tới cần xây dựng các khu vui chơi, nhà văn hoá thanh niên tại 27/27 xã, thị trấn trên toàn huyện. Cần đa dạng hoá các hình thức sinh hoạt văn hoá cho thanh niên, tiếp tục khuyến khích phát triển các hình thức sinh hoạt như tổ chức các cuộc thi: thi tuổi trẻ tài năng sáng tạo; thi thanh niên thanh lịch; Hội thi Hoạ mi vàng; Hội thi Tiếng hát học sinh; Hội thi đôi nhảy, nhóm nhảy đẹp; thi Đội Tuyên truyền các ca khúc cách mạng (TCM); Ngày hội văn hoá- thể thao toàn huyện,… Tiếp tục xây dựng các thiết chế văn hoá dành cho thanh niên như Công viên văn hoá thanh niên, Nhà văn hóa thanh thiếu nhi, Câu lạc bộ văn hoá thanh niên, sân bãi thể thao; xây dựng mô hình các Câu lạc bộ gia đình trẻ, câu lạc bộ học tập, phòng cưới văn hóa thanh niên,…
    3.2.5. Đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”:
    Đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” với các nội dung phương pháp phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, trình độ dân trí, phong tục tập quán của từng vùng, từng địa phương, từng khu dân cư, khai thác và sử dụng đúng đắn các giá trị văn hoá truyền thống từng địa phương; tích cực đưa vào trong đời sống sinh hoạt của thanh niên các tác phẩm văn hoá nghệ thuật cách mạng; đặc biệt quan tâm có những tác phẩm phù hợp với tâm lý, tình cảm, đặc điểm văn hoá truyền thống của các dân tộc. Đối với các địa phương có những nghệ thuật dân gian cần khuyến khích, động viên, hướng dẫn để thanh niên tiếp nhận và phát huy, góp phần xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh.
    Hiện nay các sản phẩm văn hoá tinh thần, các sân chơi, phương tiện vui chơi giải trí chưa phù hợp với nhu cầu và tâm lý của thanh niên. Sự buông lỏng quản lý thị trường văn hoá đã dẫn đến tình trạng lưu hành, trôi nổi các ấn phẩm văn hoá xấu độc dễ tác động xấu đến thanh niên. Một số thế lực thù địch lợi dụng các phương tiện thông tin như mạng Intenet, sách báo,… không chỉ tuyên truyền các nội dung phản văn hoá mà còn xen kẽ các luận điệu có mục đích chính trị xấu để lôi kéo thanh niên. Điều đó đặt ra yêu cầu cần phải có sự phối hợp giữa ngành văn hoá thông tin và các cơ quan hữu quan để có biện pháp hữu hiệu quản lý chặt chẽ các luồng thong tin từ bên ngoài, hướng dẫn cho thanh niên có ý thức phê phán, chọn lọc trong tiếp nhận văn hoá.
    3.2.6. Lựa chọn phương thức giao lưu thích hợp:
    Với quan hệ quốc tế đa phương hoá, đa dạng hoá của nước ta hiện nay, việc giao lưu văn hoá của ta không còn đóng khung trong một hệ ý thức thuần tuý như trước đây, mà là sự giao lưu với nhiều hệ tư tưởng, nhiều chế độ chính trị, nhiều trào lưu, khuynh hướng nghệ thuật khác nhau của thế giới. Do vậy, tỉnh táo trong giao lưu nghệ thuật, phải tạo ra được những phương thức giao lưu thích hợp để nhận rõ cái gì cần tiếp thu từ bên ngoài, cái gì cần phải chọn lọc, là điều rất quan trọng, đối với cả người quản lý văn hoá, với cả người nghệ sỹ và với chính bản thân thanh niên.
    Muốn duy trì và giáo dục văn hoá truyền thống cho thế hệ trẻ, chúng ta phải tạo ra được một không gian văn hoá truyền thống cho cuộc sống của họ. Một môi trường văn hoá mang đậm dấu ấn của bản sắc dân tộc có ý nghĩa quan trọng, có vai trò to lớn đối với việc gìn giữ và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống. Chúng ta không thể đòi hỏi thế hệ trẻ phải có thái độ đúng đắn đối với văn hoá truyền thống trong khi chúng ta không xây dựng được một không gian văn hoá truyền thống này trong chính gia đình và cộng đồng ở xã hội hiện đại.
    3.2.7. Hình thức giáo dục thanh niên giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh hội nhập:
    Cần có sự kết hợp nhiều hình thức giáo dục trong quá trình giáo dục thanh niên giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, thông qua công việc của từng đối tượng cụ thể mà chọn những nội dung thích hợp, có cơ chế gắn kết giữa tình cảm, trách nhiệm và lợi ích giữa cá nhân tập thể và xã hội, một số hình thức giáo dục như:
     Giáo dục gia đình: cần được chú trong trong giai đoạn hiện nay vì gia đình là tế bào của xã hội, là tổ ấm của mỗi người. Các bậc phụ huynh có vai trò quyết định trong quá trình hình thành nhân cách của trẻ. Đây còn là nơi lưu truyền các giá trị văn hóa dân tộc từ thế hệ nay sang thế hệ khác.
    Giáo dục nhà trường: cần được củng cố theo hướng dạy chữ hiệu quả hơn, dạy người tốt hơn, dạy nghề thiết thực hơn.
    Tuyên truyền, giáo dục thông qua dư luận xã hội: là một biện pháp quan trọng để định hướng giá trị cho lớp trẻ, để điều chỉnh các hành vi lệch chuẩn về đạo đức, lối sống, nếp sống.
    Tuyên truyền, giáo dục trên các phương tiện thông tin đại chúng: cần góp phần đắc lực hơn vào việc định hướng giá trị văn hoá mang bản sắc của dân tộc cho thế hệ trẻ.
     Đổi mới, đa dạng hoá hoạt động tuyên truyền: Kiện toàn đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên và tổ chức hoạt động có hiệu quả. Có cơ chế trang bị báo Đảng, báo Đoàn cho các Đoàn cơ sở và chi đoàn, xây dựng các chương trình phát thanh, truyền hình cấp huyện. Đặc biệt là chú trọng công tác tuyên truyền thông qua thông tin thanh niên các cấp  của Đoàn.
    Phải bằng các hoạt động thực tiễn, tấm gương cách mạng mà giáo dục lý tưởng, đạo đức để từ đó tuổi trẻ hiểu được những giá trị đích thực, không nên tổ chức những phong trào mang tính hình thức, phô trương, lãng phí, nội dung nghèo nàn, kém chất lượng, hiệu quả thấp. Bên cạnh đó tạo ra nhiều diễn đàn chính trị- xã hội để thanh niên bày tỏ quan điểm, nguyện vọng, lắng nghe ý kiến lớp người đi trước và giúp nhau trong nhận thức và hành động.
    3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ:
    Từ nhận thức về bối cảnh mới của sự nghiệp bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và từ những quan sát về thực trạng thanh niên hiện nay đối với sự nghiệp này, xin nêu một số kiến nghị cụ thể nhằm không ngừng nâng cao vị trí, vai trò hiệu quả thực tế của thanh niên trong sự nghiệp giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong tình hình mới:
    3.3.1. Đối với Đảng và Nhà nước:
    - Cần tiến hành tổng điều tra về nhu cầu, thị hiếu hiện nay của thanh niên đối với các lĩnh vực văn hoá - nghệ thuật, đặc biệt là đối với nghệ thuật dân tộc truyền thống.
    Cuộc tổng điều tra này giao cho Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh làm nòng cốt, dưới sự chỉ đạo của Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương, với sự tham gia của các cơ quan văn hoá, khoa học và tổ chức Đoàn thanh niên các cấp. Kết quả của cuộc tổng điều tra sẽ giúp chúng ta đánh giá chuẩn xác hơn nhu cầu, thị hiếu của thanh niên hiện nay với văn hoá nói chung, với nghệ thuật dân tộc truyền thống nói riêng, để từ đó định hướng cá hoạt động nhằm nâng cao vị thế của thanh niên với sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
    - Cần phải tăng cường vai trò của các cơ quan chính quyền trong việc quản lý các quá trình, hiện tượng và các quan hệ xã hội, trong đó việc xây dựng các quy chuẩn mới dựa trên nền tảng truyền thống phải được quan tâm chú ý đặc biệt. Cần phải xây dựng những quy tắc mới trong việc phát triển văn hoá lành mạnh, vừa truyền thống vừa hiện đại trong việc tổ chức lễ hội truyền thống, sinh hoạt, vui chơi trong các ngày lễ, cưới xin, ma chay,…
    - Cần có cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện cho thanh niên phát huy vai trò tích cực của mình đối với sự nghiệp bảo vệ và phát huy văn hoá truyền thống dân tộc. Cụ thể là:
    + Chính sách ưu tiên đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất cho các đoàn nghệ thuật dân tộc truyền thống.
    + Chính sách ưu tiên, hỗ trợ kinh phí, vật chất cho các tổ, đội văn nghệ dân tộc truyền thống của các tổ chức Đoàn thanh niên (như đội tuyên tuyền các ca khúc cách mạng, cá đội tuyên truyền viên).
    + Chính sách ưu tiên cho các cơ sở đào tạo về văn hoá - nghệ thuật trưyền thống, bao gồm cả ưu tiên cho cơ sở đào tạo và ưu tiên cho người học.
    + Chính sách hỗ trợ khen thưởng thoả đáng cho thanh niên hoạt động trên lĩnh vực văn hoá - nghệ thuật dân tộc ruyền thống, trong đó cần thể hiện rõ sự ưu tiên xét tặng các danh hiệu nghệ sĩ, danh hiệu thi đua cho các nghệ sĩ trẻ hoạt động trên lĩnh vực này.
    - Xây dựng, bồi dưỡng để hình thành đội ngũ cán bộ văn hoá là hạt nhân văn hoá văn nghệ cho cơ sở, nhất là trong tổ chức Đoàn và Hội LHTN. Chỉ có kiện toàn đội ngũ cán bộ và hạt nhân văn hoá văn nghệ thì hệ thống thiết chế văn hoá mới phát huy được hiệu quả của mình.
    - Để có cơ sở cho toàn bộ sự nghiệp giáo dục, bồi dưỡng văn hoá cho thanh niên, Trung ương cần xây dựng cho được chuẩn mực giá trị của thanh niên trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Đặc biệt chú ý đến chuẩn mực giá trị tư tưởng, chính trị, cá chuẩn mực giá trị thẩm mỹ văn hoá truyền thống. Từ hệ thống chuẩn mực giá trị, các ngành, các đoàn thể  hình thành chương trình  hành động tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng các chuẩn mực giá trị này cho thanh niên. Trong việc tuyên truyền, giáo dục các chuẩn mực giá trị của thanh niên trong thời kỳ mới cần sử dụng có hiệu quả các kênh: hệ thống trường học, hệ thống văn hoá văn nghệ, hệ thống thông tin đại chúng.
    3.3.2.  Đối với Đoàn thanh niên:
    - Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cần phát động trong thanh niên phong trào sưu tầm, học hỏi (như cuộc vận động “Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại”, “Thắp lửa truyền thống mãi mãi tuổi 20”…) và tổ chức các hoạt động biểu diễn văn hoá nghệ thuật truyền thống, coi đây là một hoạt động, một nội dung thi đua của các đoàn viên và các tổ chức Đoàn.
    - Đoàn thanh niên và ngành văn hoá thông tin các cấp cần định kỳ tổ chức các cuộc liên hoan (hoặc hội thi, hội diễn) văn hoá - nghệ thuật dân tộc truyền thống với đối tượng tham gia thi, thưởng thức là thanh niên. Chính những cuộc liên hoan này là một trong những phương thức hiệu quả nhất giúp thanh niên thực sự vừa là chủ nhân giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, vừa là người trực tiếp hưởng thụ tinh hoa của văn hoá dân tộc. qua đó bồi đắp tâm hồn, đạo đức, lối sống của mình ngày càng thêm phú.
     - Cần tăng cường tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo dục thanh niên tích cực tham gia giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc thông qua việc xã hội hoá công tác thanh niên. Tức là làm cho quá trình giáo dục được gắn kết hài hoà giữa gia đình - nhà trường - xã hội.
    - Phải quan tâm hơn nữa tới việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Đoàn để họ thực sự là hạt nhân, nòng cốt, là tấm gương sáng vận động, giáo dục đoàn viên thanh niên  rèn luyện noi theo.


    KẾT LUẬN
    Bản sắc văn hoá Việt Nam là tố chất được hợp luyện cùng chiều với lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Bản sắc đó không phải là một hằng số, là những giá trị bất biến, mà có những giá trị mới được hình thành, bồi tụ trong quá trình hội nhập, tiếp biến giữa các nền văn hoá.
    Giữ gìn bản sắc văn hoá của dân tộc là một ý thức chính trị, xây dựng tâm  lý cộng đồng với nội dung cao cả là tinh thần độc lập tự cường, tự chủ lại là biểu hiện cao nhất và trước hết của văn hoá. Phải thường xuyên bồi bổ cho lịch sử - văn hoá với ý nghĩa cội rễ của dân tộc cho thanh niên, để cho cốt cách văn hoá dân tộc thấm sâu vào tâm lý thanh niên. Đồng thời phải kết hợp một cách chặt chẽ, khoa học, tinh tế, có lý, có tình giữa “pháp trị” - mà đặc biệt là vai trò quản lý của nhà nước đối với các lĩnh vực kinh tế - xã hội với “đức trị” mà chủ yếu là giáo dục tính nhân văn, đạo đức. ở một ý nghĩa nào đó, là kết hợp giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là nhiệm vụ chủ yếu và lâu dài. Phải nhận thức con người nói chung, thanh niên nói riêng là điểm  xuất phát cũng là mục tiêu của sự ptáh triển. Phải đào tạo thanh niên cả về nhân cách và trí tuệ. Trong nhân cách có trí tuệ. Trí tuệ càng cao, nhân cách càng phải lớn. Như nghị quyết Đại hội Đảng XI của Đảng đã nêu rõ: “Văn hoá trở thành nhân tố thúc đẩy con người tự hoàn thiện nhân cách, kế thừa truyền thống cách mạng của dân tộc”. Chỉ có nhận thức như vậy mới tạo nên một Việt Nam ổn định, phát triển bền vững nói chung, một Thanh Hóa, một Hậu Lộc nói riêng trong quá trình giao lưu, hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Vì suy đến cùng thì sự phát triển của xã hội chính là sự phát triển về văn hoá.
     


    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
    1.          C.Mác - Ph.Ăngghen, Bàn về thanh niên, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1982.
    2.          V.I.Lênin, Bàn về thanh niên, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1982.
    3.          Hồ Chí Minh, Về giáo dục thanh niên, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1980.
    4.          Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004.
    5.          Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ tư (khóa VII), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993.
    6.          Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.
    7.          Đảng cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 25 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về công tác thanh niên thời kỳ đẩy manh CNH, HĐH, Hà Nội, 2008.
    8.          Đảng cộng sản Việt Nam, Nghị quyết trung ương 5 ( khóa VIII) về xây dựng  và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Hà Nội, 1998
    9.          PGS.TS Phạm Thành Dung -TS Nguyễn Thị Thúy Hà - TS Phạm Thanh Hà (Đồng chủ biên), một số vấn đề quan hệ quốc tế và đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam, Nxb chính trị - hành chính, Hà Nội, 2013.
    10.      TS. Phạm Đình Nghiệp, Phương pháp công tác thanh niên (tài liệu lưu hành nội bộ), Học viện thanh thiếu niên Việt Nam, Hà Nội, 2004.
    11.      TS. Phạm Đình Nghiệp, Nghiệp vụ công tác Đoàn - Hội - Đội (tài liệu lưu hành nội bộ), Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam, Hà Nội, 2004.
    12.      Ban Tư tưởng văn hoá Trung ương, Văn hoá với thanh niên, thanh niên với văn hoá- một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Hà Nội, 2002.
    13.      Ban Chấp hành Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Báo cáo khoa học đề tài "Tình hình tư tưởng thanh niên và công tác giáo dục của Đoàn giai đoạn hiện nay", Hà Nội, 2008.
    14.      Ban Chấp hành Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Báo cáo khoa học đề tài "Tình hình tư tưởng thanh niên và công tác giáo dục của Đoàn giai đoạn hiện nay", Hà Nội, 2002.
    15.      Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa, Chỉ thị số 19 về Đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động Đoàn và phong trào thanh niên trong thời kỳ mới, Thanh Hóa, 2009.
    16.      Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa, Chỉ thị số 18 về Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với công tác thanh niên trong tình hình mới, Thanh Hóa, 2014.
    17.      Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa, Nghị quyết 02 NQ/TU của Tỉnh ủy về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2012-2015, Thanh Hóa, 2011.
    18.      Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa, Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, Thanh Hóa, 2010.
    19.      Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Hậu Lộc, Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện Nghị quyết 25 của BCH TƯ Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, Hậu Lộc, 2011.
    20.      Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Hậu Lộc, Văn kiện Đại hội Đảng bộ huyện khóa XXV, nhiệm kỳ 2010 -2015, Hậu Lộc, 2010.
    21.      Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Hậu Lộc, Báo cáo sơ kết 15 năm thực hiện Nghị quyết TƯ 5 ( Khóa VIII) của BCH TƯ Đảng về xây dựng  và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Hậu Lộc, 2013.
    22.      Ủy ban nhân dân Huyện Hậu Lộc, Báo cáo tình hình kinh tế xã hội năm 2007, Hậu Lộc , 2007.
    23.      Ủy ban nhân dân Huyện Hậu Lộc, Báo cáo tình hình kinh tế xã hội năm 2013, Hậu Lộc , 2013.
    24.      Ủy ban nhân dân Huyện Hậu Lộc, Báo cáo tình hình kinh tế xã hội Quý 1, năm 2014, Hậu Lộc , 2014.
    25.      Ủy ban nhân dân huyện Hậu Lộc, Báo cáo tình hình tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài toàn huyện giai đoạn 2005-2010, Hậu Lộc, 2010.
    26.      Ban chấp hành huyện đoàn Hậu Lộc, Văn kiện Đại hội Đoàn toàn huyện khóa XXII, nhiệm kỳ 2012 - 2017, Hậu Lộc, 2012.
    27.      Ban Thường vụ Huyện Đoàn Hậu Lộc, Báo cáo sơ kết cuộc vận động "Đoàn viên thanh niên phấn đấu trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam", Hậu Lộc, 2012.
    28.      Ban Thường vụ Huyện Đoàn Hậu Lộc, Báo cáo sơ kết cuộc vận động“ Tuổi trẻ Hậu Lộc học tập và làm theo lời Bác”, Hậu Lộc, 2013
    29.      Ban Thường vụ Huyện đoàn Hậu Lộc, Báo cáo sơ kết cuộc vận động“ người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, Hậu Lộc, 2013.






0 nhận xét:

Speak up your mind

Tell us what you're thinking... !

quangcao